Tri thức là những giọt nước trong đại dương bao la!

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

CHUYỆN VỀ MỘT THIÊN TÀI QUÂN SỰ, MỘT “BADBOY” CỦA LỊCH SỬ: TRẦN KHÁNH DƯ

DŨNG PHAN
Trần Khánh Dư, một bậc tài hoa nhưng không hoàn hảo, một “cơn gió chướng” trong dòng chảy lịch sử Việt Nam với những phát ngôn và hành động thô bỉ. Nhưng, là một người coi trọng tự do cá nhân trong thời đại phong kiến, một người đạp bằng dư luận mà sống, một vị tướng thiên tài, một quý tộc đặc sắc, và cả một sự cô đơn trong một mối tình oan nghiệt.
1. TÀI NĂNG, MỐI TÌNH VÀ "GIÓ CHƯỚNG THỜI ĐẠI"
Người đàn ông ấy là một nhân vật “nửa chính nửa tà”.
Ông không phải là kiểu “yêu nước thương dân” như trong tiểu thuyết, hoặc kiểu được xây dựng để “yêu nước thương dân”. Đại Việt Sử ký Toàn thư có viết: "Khánh Dư tính tham lam, thô bỉ, những nơi ông ta trấn nhậm, mọi người đều rất ghét. Nhân Tông chỉ tiếc ông có tài làm tướng, nên không nỡ bỏ mà thôi". 
Trần Khánh Dư là một “badboy”. Cũng giống như cách các anh chàng “badboy” thừa sự tự tin về tài năng, mang vẻ ngoài và sự mạnh bạo của bản thân để quyến rũ các cô nàng. Khiến kẻ đối diện biết rằng xấu, mà vẫn quyến luyến. Trần Khánh Dư cũng mang cái tố chất đặc biệt đó, nhưng ở một tầm vóc vĩ mô. Từ “badboy” mà tôi dùng không hẳn là nói về cái quan hệ nam nữ, mà là cái “badboy” đối với cả quân lính và người dân mà ông cai quản. Trần Khánh Dư sở hữu một câu nói, mà có lẽ bây giờ có vị quan chức nào phát biểu câu đó, hẳn phải viết đơn từ chức sớm. Đấy là câu "Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?". Nói xong, liền đi thẳng về nhà vì sợ vua Trần Anh Tông gọi lại giáo huấn. Câu nói đó ý tứ rất rõ ràng, và thậm chí là tàn bạo: kẻ làm tướng xem lính như vịt để ăn và mổ. Thực ra chính điều này, lại giúp ông thắng được trận Vân Đồn. Vì sao thì tôi sẽ nói ở phần sau bài viết.

Tính cách và con người Trần Khánh Dư cần phải đi sâu vào 2 câu chuyện:
+) Đầu tiên, là vụ án thông dâm của Trần Khánh Dư và Thiên Thụy công chúa (mà gần đây giang hồ đang bức xúc cái tác phẩm kia đấy). Thiên Thụy là con gái của vua Trần Thánh Tông, nàng được gả cho Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn. Nhưng Trần Khánh Dư và Thiên Thụy vẫn lén lút qua lại với nhau, câu chuyện vỡ lỡ, Trần Khánh Dư bị phạt vì tội thông dâm. Vua Trần tuyên án tử hình Trần Khánh Dư, sai quân lính dùng roi đánh kẻ phạm tội đến chết. Nhưng vì quá yêu tài ông, vẫn lén dặn lính chúc gậy xuống để đánh 100 gậy. Mà theo luật thời đó, quá 100 gậy sống thì trời tha. Vậy là Trần Khánh Dư sống.
Tuy nhiên hậu thế vẫn có thể nhìn theo một góc khác. Nếu đi tìm lịch sử, bạn sẽ biết, Trần Khánh Dư đã quen với Thiên Thụy trước đó khá lâu rồi. Ông “Thiên tử nghĩa nam” của vua Trần Thánh Tông, với vị trí là “hoàng tử” (dù là con nuôi). Ông tự do đi vào cung cấm, chơi bời, và có cơ hội gặp công chúa trưởng của cha nuôi mình là Thiên Thụy. Hai người yêu nhau từ khi ấy. Nhưng rồi, Hưng Đạo Vương lại xin Thiên Thụy cho con trai Trần Quốc Nghiễn. Vua Trần Thánh Tông để làm đẹp lòng Hưng Đạo Vương đã đồng ý cho Thiên Thụy về Vạn Kiếp. Có nghĩa, mối tình niên thiếu của Thiên Thụy và Trần Khánh Dư bị đứt đoạn vì một cuộc hôn nhân chính trị.
Trần Khánh Dư và Thiên Thụy vẫn quan hệ với nhau khi Thiên Thụy đã về nhà chồng. Ồ, ngoại tình thì không có gì để bào chữa nữa. Nhưng, hãy đặt vào trong hoàn cảnh của thế kỷ XIII khi ấy. Cái cách mà Trần Khánh Dư đã làm với tình yêu bị đứt đoạn ấy, có đáng để trầm ngâm hay không? Chúng ta đều biết trong thời đại phong kiến, tự do con người chỉ đẩy về hàng thứ yếu, tình yêu chỉ là mộng ảo của cái thiếu niên, khi quyết định hôn nhân đều bị hạ thấp dưới vấn đề quốc gia và dòng tộc.
Thân phận nhi nữ được mặc định là quân cờ trong ván bài chính trị của các phe phái, với các cuộc hôn nhân không có tình yêu. Càng đặc biệt hơn khi đây là nhà Trần, với đặc thù về các cuộc hôn nhân “cận huyết” để tránh vết xe đổ của Lý Chiêu Hoàng – Trần Cảnh lặp lại, thì nữ nhân lại càng giống như một món đồ nữa. Trước Thiên Thụy công chúa có ai? Có Lý Chiêu Hoàng, có Thuận Thiên công chúa…đều là những phận đời long đong qua tay người đàn ông này đến người đàn ông kia để phục vụ cho mục đích chính trị. Có nghĩa, Trần Khánh Dư đã đến với Thiên Thụy công chúa trong hoàn cảnh bị cả xã hội nguyền rủa. Nhưng với tính cách bạo liệt của mình, ông đã đến với Thiên Thụy cho bằng được. Trần Khánh Dư đã đi ngược với thời đại, đạp lên những tôn ti thông thường, cười ngạo vào lễ nghĩa, để tôn vinh lên tự do cá nhân của bản thân ông và tình yêu của ông. Trần Khánh Dư – Thiên Thụy là ngoại tình, là thông dâm, nhưng còn là bi kịch đoạn cuối cuộc đời trong cái lầm lỗi đi tìm tự do cá nhân.
+) Con người Trần Khánh Dư đi sớm hơn thời đại.
Nước Việt Nam vốn hình thành từ một nền văn minh lúa nước, nên văn hóa Việt Nam coi trọng nông nghiệp hơn là giao thương. Sự hình thành của lịch sử với cách xếp hạng “sĩ nông công thương” mà thương xếp cuối vẫn còn đến tận bây giờ. Nhưng Trần Khánh Dư chính là một vị tướng đã làm thương nghiệp ngay từ khi nhà Trần chỉ mải miết coi trọng nông nghiệp. Trần Khánh Dư khi bị xử tội sau vụ Thiên Thụy công chúa đã chèo thuyền đi … bán than. Ông buôn bán, kiếm giá trị thặng dư. Và thậm chí trở thành một con buôn khi làm chính trị. Khi ông được vua cho phục chức cũ, Trần Hưng Đạo với vị trí Quốc công tiết chế, đã phong cho Trần Khánh Dư làm Phó tướng giữ Vân Đồn. Khi Khánh Dư mới đến trấn giữ Vân Đồn, thấy tục ở đấy làm nghề buôn bán sinh nhai, ăn uống, y phục đều trông vào khách buôn phương Bắc, cho nên quần áo đồ dùng theo tục người Bắc. Khánh Dư liền điểm duyệt quân các trang, hạ lệnh rằng: "Quân đóng ở Vân Đồn là để ngăn giữ giặc Hồ; nên không đội nón của phương Bắc, trong khi vội vàng khó lòng phân biệt, nên đội nón Ma Lôi (Ma Lôi là tên một hương ở Hồng Lô, làng này khéo nghề làm nón, nên lấy tên làng làm tên nón) ai trái lệnh tất phải phạt". Lệnh đã hạ, sai người ngầm bảo người ở trong rằng: "Hôm nọ thấy ở trước cảng, có người chở nón Ma Lôi đậu". Thế là người trong trang nối gót nhau tranh mua nón, bắt đầu mua mỗi cái nón không quá một tiền, đến sau giá cao bán một cái nón giá một tấm vải, thu được một lượng vải đến hàng ngàn tấm.
Bạn biết mấy cái nón đó ở đâu mà có không? Trần Khánh Dư đã sai người nhà mua nón Ma Lôi từ trước, chở thuyền đến đậu ở trong cảng rồi. Mấy cái thuyền, cái nón Ma Lôi đó đều là của đồng chí ấy cả. Cái câu "Vân Đồn kê khuyển diệc giai kinh" (Gà chó Vân Đồn cũng đều sợ) chính từ đó mà ra. Ngoài việc nói thác kính phục uy danh, nhưng thực ra có ý mỉa mai về vụ buôn bán này đấy.
Đây không khéo là "Đầu cơ chính sách" của thời đại mới. Cho nên tôi luôn muốn các bạn đừng nhìn Trần Khánh Dư theo một màu hồng.
Thế vì sao cuối cùng, ông vẫn là người được thờ cúng, chứ không phải là “chim ưng ăn vịt”? Bởi vì trận đánh Vân Đồn. Trận đánh có tính bước ngoặt cho chiến thắng quân Nguyên lần thứ 3.
2. HẢI CHIẾN VÂN ĐỒN
Trận hải chiến này diễn ra trong “Kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3” vào năm 1288. Có lẽ đa phần trong chúng ta đều được dạy rằng, chiến thắng quyết định là nằm ở trận Bạch Đằng 1288 do Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương lãnh đạo. Nhưng bây giờ tôi sẽ nói khác. Đó phải là hải chiến Vân Đồn. Vì sao? Trận chiến Bạch Đằng 1288 và Trận chiến Bạch Đằng 938 tuy đều dùng chung 1 phương pháp là đóng cọc nhọn khiến vỡ tan thuyền giặc, đưa dòng sông này trở thành huyền thoại. Nhưng đã có một sự khác biệt rất cơ bản mà nhiều người không để ý.
- Trận chiến năm 938 là Ngô Quyền chặn đánh thế tấn công của giặc phương Bắc đang đánh thẳng vào Đại La.
- Trận chiến năm 1288 là Trần Hưng Đạo tiêu diệt đoàn thuyền của giặc phương Bắc … đang rút chạy.

Đấy. Vấn đề là ở chỗ đó đấy! Một bên là phòng thủ còn bên kia là rút chạy. Câu hỏi đặt ra, vì sao quân Nguyên lại rút chạy để rồi rơi vào bẫy của Hưng Đạo Đại Vương?
Câu trả lời: vì Trần Khánh Dư đã đánh tan thuyền lương của Trương Văn Hổ ở trận hải chiến Vân Đồn !
Vậy thì trận đánh nào có tính bước ngoặt hơn? Chính là trận hải chiến Vân Đồn.
Nếu không có trận Vân Đồn, sẽ không có trận Bạch Đằng. Nói nôm na, nếu ví Đại Việt và Đại Nguyên là hai đối thủ trên sàn boxing, thì trận Vân Đồn là cú móc trái khiến quân Nguyên Mông tối tăm mặt mày, còn trận Bạch Đằng là cú móc hàm khiến quân Nguyên Mông đổ gục toàn bộ. Đấy, bạn đã hiểu vì sao hải chiến Vân Đồn và cái tên Trần Khánh Dư sống mãi với non sông rồi đó! Kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3, ông là nhân vật chính. Xưa giờ, chúng ta đều xếp các trận hải chiến của Việt Nam thì Bạch Đằng, Rạch Gầm Xoài Mút, hay Thi Nại … đều được xếp hàng đầu, ít nhiều đã quên đi trận hải chiến Vân Đồn này. Do vậy, các bạn phải nhớ giá trị của chiến thắng đó. Có 1 giá trị nhỏ: đây là trận đánh trên biển, còn đa phần chúng ta hay đánh trên sông thời phong kiến.
Bây giờ, tôi sẽ sử dụng 3 tài liệu ở 3 cuốn chính sử được ghi lại. Và từ 3 tài liệu này, tôi sẽ đi đến suy luận cho các bạn về cách Khánh Dư dụng binh. Lịch sử là tư duy, không có học thuộc !
- Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Ngày 30/12/1287, thủy quân Nguyên do Ô Mã Nhi gồm 650 chiến thuyền đánh vào Vân Đồn. Trần Khánh Dư chỉ có 100 chiến thuyền nên không chống đỡ nổi địch, thất bại nhanh chóng. Tin đến tai triều đình, vua Trần sai trung sứ xiềng Khánh Dư giải về kinh. Khánh Dư nói: "Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn". Vua Trần thấy được sự tự tin của Trần Khánh Dư, nên đã đồng ý cho Trần Khánh Dư lập công chuộc tội. Vì lợi dụng được bọn nội gián, nên ông biết được con đường tải lương của giặc. Ông lập tức thu thập tàn binh đợi chúng. Chẳng bao lâu thuyền vận tải quả nhiên đến, Khánh Dư đánh bại chúng, bắt được quân lương khí giới của giặc nhiều không kể xiết, tù binh cũng rất nhiều...”.
- Khâm Định Việt sử thông giám Cương Mục thì chép: “Khánh Dư đoán chắc thuyền của giặc đã đi qua rồi, thì thuyền tải lương tất đi theo sau, liền thu thập tàn quân, sẵn sàng chờ đợi. Một lát sau, quả nhiên thuyền tải lương của Văn Hổ đến, Khánh Dư đón đánh, quân Nguyên bị thua to...”.
- Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim viết: “Ô Mã Nhi đem thuyền đi đến ải Vân Đồn gặp quân của Trần Khánh Dư chặn đường không cho đi. Ô Mã Nhi thúc quân đánh rát một trận, quân Khánh Dư thua bỏ chạy cả. Quân Nguyên kéo thẳng ra bể đi đón thuyền lương...Được mấy hôm Ô Mã Nhi ra bể gặp thuyền lương của Trương Văn Hổ, lại đem quân trở vào đi trước dẹp đường, Trương Văn Hổ đem thuyền lương theo vào sau... Trương Văn Hổ tải các thuyền lương vào cửa bể Lục Thủy Dương. Khánh Dư đổ quân ra đánh, Văn Hổ địch không nổi, bao nhiêu thuyền lương bị quân Khánh Dư phá cướp mất cả, và bắt được khí giới rất nhiều...”.
Rồi, cơ bản là các bạn nắm ý như thế. Diễn biến trong chính sử cũng chỉ chép đến thế. Trần Khánh Dư thua Ô Mã Nhi và thắng Trương Văn Hổ.
Vấn đề là, mọi thứ có đơn giản như vậy không?
Hãy quay lại tính cách của Trần Khánh Dư mà tôi đã viết ở phần 1: "Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?". Đi sâu vào cuộc đời của Trần Khánh Dư, bạn có thể thấy, ông ta sẵn sàng “lợi dụng chức vụ và quyền hạn để trục lợi” trên chính người lính của mình, điển hình là chuyện nón Ma Lôi. Do đó, từ lời nói và hành động mà suy thì Trần Khánh Dư là người sẵn sàng nướng quân vì mục đích cao hơn. Vị “Thiên tử nghĩa nam” này khác kiểu của Trần Hưng Đạo – là người đặt lòng nhân cao hơn. Trần Khánh Dư rất thô bạo, Đại Việt sử ký toàn thư thì dùng từ là “thô bỉ, tham lam”.
Đó là cái lưu ý thứ nhất: tính cách Trần Khánh Dư với lính dưới quyền.

Lưu ý thứ hai là gì? Trần Khánh Dư là một con buôn. Mà đã là con buôn thì luôn cân nhắc về “lỗ” hay “lãi”. Ông rất giỏi nghề kinh thương, khác với các vị tướng cùng thời đại, Trần Khánh Dư bán than, bán mũ…kiếm giá trị thặng dư. Đặc thù suy nghĩ con buôn đó là: sẵn sàng "lỗ đầu” để "lời đuôi ”.
Lưu ý thứ ba là gì? Tài năng cầm quân ra trận của Trần Khánh Dư. Trên lời đề tựa đầu cuốn “Vạn kiếp bí truyền thư”, cuốn sách bày binh bố trận của Trần Hưng Đạo, có một câu: “Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận. Người giỏi bày trận thì không cần phải đánh. Người giỏi đánh thì không thua. Người giỏi thua thì không chết”. Nghe như một câu nào đó trong Binh Pháp Tôn Tử, nghe như lời của Tào Tháo, của Khổng Minh … trong Tam Quốc Diễn Nghĩa. Tưởng rằng chỉ có ở Trung Quốc, ở các pho sử của Trung Quốc. Không, đấy là câu nói tuyệt hay của Trần Khánh Dư. Ngẫm đi ngẫm lại, chỉ có thể dành cho hai từ tuyệt diệu. Những chữ này, đáng để lưu danh thiên cổ, để người Việt có thể nói chuyện và comment với nhau, chứ nào phải rơi rớt ở đâu đó, và giờ ta phải đi nhặt lại, nhắc cho nhau cùng nhớ.
Và ta hãy lưu ý vào câu chốt “Người giỏi thua thì không chết” . Trần Khánh Dư là người biết … cách thua. Vậy câu hỏi đặt ra, Trần Khánh Dư có thật sự thua Ô Mã Nhi như chính sử đã chép? Hay là ông cố tình thua? Trần Khánh Dư là tướng tài. Mà đã là tướng tài, thì nào lại không hiểu cái bản chất cốt lõi của quân Nguyên Mông, đấy là vấn đề lương thực. Tôi xin dừng tạm chỗ này, để trích lại khúc ca số 7 trong cuốn sách “Sử Việt - 12 khúc tráng ca” của tôi ngõ hầu giúp các bạn đi tiếp chuỗi suy luận này:
“Để miêu tả về sức mạnh quân Mông Cổ, một nhà sử học thời Tống bên Trung Quốc đã viết: “Hoặc xa hoặc gần, hoặc nhiều hoặc ít, hoặc hợp lại hoặc tản ra, hoặc ẩn hoặc hiện, đến thì như trên trời rơi xuống, đi thì nhanh như chớp giật. Kẻ địch chia ra thì họ chia ra, kẻ địch hợp lại thì họ hợp lại. Họ mà thắng thì đuổi theo quân địch chém giết, không để trốn thoát. Họ mà thua thì chạy rất nhanh, đuổi theo không kịp.” Đoạn miêu tả ấn tượng ấy giúp ta thấy sức mạnh khủng khiếp của binh đoàn này, nhưng đây là điểm mạnh mà cũng là điểm yếu của quân lính Mông Cổ. Chính vì sống trên lưng ngựa, đánh thắng trên lưng ngựa nên ngựa trở thành điểm chính yếu cho sự tồn tại của kỵ binh. Tốc độ hành quân quá nhanh dẫn đến lương thảo thường không theo kịp, quân sĩ bởi vậy thường mang theo lượng lương thảo tinh giảm và gọn nhẹ nhất, chủ yếu sẽ là “tự cung tự cấp”, chém giết các điểm đến để lấy thức ăn cho người và ngựa. Sinh thời, Thành Cát Tư Hãn cũng đã từng nói: “Phải chinh phạt kẻ thù, phải bắt kịp kẻ thù, phải cướp bóc tài sản của bọn chúng…” Nhưng nếu không có gì để mà cướp thì sao? “Vườn không nhà trống” của Đại Việt chính là lời hồi đáp cho câu hỏi đó. Việc này khiến quân thiết kỵ Mông Cổ chưng hửng. Cướp phá chẳng được gì, lương thực thì cạn kiệt. Đến một thời điểm nhất định, chỉ cần dùng đại quân đã được ém kỹ, lấy sức nhàn đánh quân mệt, nổ một phát sấm sét là coi như thành công.”
Có nghĩa, điểm mạnh của quân Nguyên Mông là tốc độ, còn điểm yếu là lương thực. Vì vậy nên Trần Thủ Độ và Trần Hưng Đạo đã áp dụng chiến lược "vườn không nhà trống” mà thắng lợi ở lần 1 và lần 2. Thua lần 1 và lần 2 cùng một lý do, thì cớ gì quân Nguyên Mông không biết rút kinh nghiệm trong lần đánh Đại Việt thứ 3 (minh chứng ở chuyện, Thoát Hoan đã cho đoàn thuyền chở nhiều lương thực sang hỗ trợ). Nếu quân Nguyên Mông biết rút kinh nghiệm, thì cớ gì Trần Khánh Dư lại không biết mà tấn công vào đó? Tức là Trần Khánh Dư đánh Trương Văn Hổ (người chở lương) là chính, chứ đâu phải đánh Ô Mã Nhi (người chở lính) là chính? Bởi thử tưởng tượng cái cảnh Thoát Hoan có lương thực ở Thăng Long. Đại Việt chỉ có gục ! Nếu không biết cái cốt lõi đó, thì Trần Khánh Dư đâu phải là tướng tài? Và nếu như trong chính sử viết Trần Khánh Dư thua là thua, sau đó bị ép mà thắng. Vậy e rằng đó chỉ là miêu tả một người “khốn cùng liều thân” để chuộc tội, chứ không phải miêu tả tướng tài rồi ! Tuy nhiên chính sử đã cài cắm một ý rất tuyệt ở đây “Lấy quân pháp mà xử, tôi cam chịu tội, nhưng xin khất hai, ba ngày, để mưu lập công rồi về chịu tội búa rìu cũng chưa muộn“. Thường thì quan niệm cũ “quân xử thần tử thần bất tử bất trung”. Nhưng tại sao Trần Khánh Dư lại có thể điều đình được như vậy? Và còn nữa, vì sao vị trung sứ đưa lệnh triệu hồi về triều của Thượng hoàng Thánh Tông lại có thể im lặng và đồng ý? “Thiên tử nghĩa nam” làm gì mà to hơn “Thiên tử”?
Có nghĩa tất cả quan quân nhà Trần đều tin có bước thứ 2 trong kế hoạch đó.
Nhắc lại 3 lưu ý:

1/ Trần Khánh Dư là một đại tướng không xót mạng binh lính.
2/ Trần Khánh Dư là con buôn, mà con buôn thì chẳng bao giờ đi buôn lỗ vốn.
3/ Trần Khánh Dư là tướng tài.

Kết hợp cả 3 yếu tố này lại, ta có gì đây? Trần Khánh Dư đã “nướng quân” lần 1 với Ô Mã Nhi, tất cả để dồn chủ lực mà tiêu diệt Trương Văn Hổ.
3. HẢI CHIẾN VÂN ĐỒN THẬT SỰ SẼ RA SAO?
Theo tư duy và góc nhìn của tôi, trận chiến đó phải diễn ra như thế này:
Thủy quân Nguyên do Ô Mã Nhi gồm 650 chiến thuyền đánh vào Vân Đồn, dọn đường cho đoàn thuyền chở lương của Trương Văn Hổ vào Đại Việt. Trần Khánh Dư sai 100 chiến thuyền với đa số quân già yếu ra cự địch, thất bại nhanh chóng. Quân Đại Việt thiệt hại nặng, chết rất nhiều, binh sĩ tử trận. Ô Mã Nhi thắng trận lớn, ông ta tin rằng chủ lực phòng ngự Đại Việt đã tan tành. Ô Mã Nhi theo thói quen, liền hành quân thần tốc, tiến nhanh vào Đại Việt để lập công đầu. Vị tướng nhà Nguyên sau khi thắng Trần Khánh Dư đã mang niềm tin rằng con đường chở lương đã được ông ta dọn dẹp thông thoáng, và Trương Văn Hổ sẽ thoải mái đi vào mà chẳng ai ngăn trở, qua đó sẽ cung cấp lương thực cho Thoát Hoan tại Thăng Long, tránh tình trạng đói khổ, bệnh tật như những lần trước. Nhưng Ô Mã Nhi không ngờ rằng, Trần Khánh Dư đã nướng quân của mình trong đợt đầu (đấy là "bỏ vốn" làm ăn) để khiến Ô Mã Nhi nhầm tưởng rằng ông ta đã thắng hết quân Đại Việt. Thực tế, quân chủ lực của Trần Khánh Dư chưa ra trận, mà đã được ém sẵn xung quanh biển Vân Đồn để đánh vào mục tiêu chính, cái mục tiêu đã giúp Đại Việt giữ được bờ cõi suốt hai lần xâm lăng trước: LƯƠNG THỰC (đấy là "lãi").
Cùng thời điểm, Trương Văn Hổ nhận được tin tình báo từ Ô Mã Nhi về chiến thắng, và con đường thông thoáng đã được mở ra, liền thong thả hành quân vào Vân Đồn như chốn không người, chẳng ai phòng thủ. Mà không biết rằng, ông ta đang hành quân vào cõi chết. Khi quân Trương Văn Hổ đi vào trận địa phục kích, Trần Khánh Dư liền phất cờ cho quân chủ lực 4 mặt ào ra đánh. Hãy tưởng tượng tình cảnh Trương Văn Hổ khi đó. Thuyền lương thì chậm chạp, hành quân thì sơ sài, phòng bị thì không có. Sự bất ngờ, không phòng bị, cùng vấn đề của quân yếu đánh với quân mạnh, Trương Văn Hổ chỉ có bại, tuyệt không có thắng. Khi ông ta đã đối diện với quân chủ lực chính thức của Trần Khánh Dư giờ mới ra trận. Còn quân chủ lực của quân Nguyên thì đã theo Ô Mã Nhi đi vào sâu trong nội địa Đại Việt (vì tưởng đã thắng) rồi.
Đấy, chính là toàn cảnh của trận chiến Vân Đồn.
Ở đây Trần Khánh Dư đã thắng ở chiến lược lớn là “rút củi đáy nổi”, tức đánh vào trọng tâm của giặc là lương thực, còn thực hiện mưu kế “vứt gạch lấy vàng”.
Lúc này ở đất liền, Thoát Hoan một mình trong Thăng Long không có lương thực. Quân lính đói rét, bệnh tật, thủy thổ không hợp. Cùng thời điểm, Trần Hưng Đạo tấn công lại các vùng bị chiếm, Thoát Hoan lại phải rút chạy. Nói không ngoa, một trận Vân Đồn, đã khiến gió đổi chiều trong cuộc chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ 3.
4. CÂU CHUYỆN CUỐI ĐỜI
Để tưởng nhớ và ghi nhận công lao to lớn của Trần Khánh Dư. Ở đảo Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh), người dân lập đền thờ Trần Khánh Dư, họ tôn ông làm Thành hoàng và thờ tự tại đình Quan Lạn. Hàng năm, người dân trong vùng tổ chức lễ hội Quan Lạn vào trung tuần tháng 6 âm lịch để tưởng nhớ công lao của ông, cùng các tướng sĩ đã làm nên trận hải chiến oanh liệt. Ngoài đền ông, còn có đền thờ 3 vị tướng họ Phạm - phó tướng của Trần Khánh Dư trong trận hải chiến Vân Đồn, đấy là Phạm Công Chính, Phạm Quý Công và Phạm Thuần Dụng. Những người đã hy sinh anh dũng trong trận đánh này. Đã phục kế nấp thuyền trong sương mù để tiêu diệt đoàn quân của Trương Văn Hổ. Ảnh minh họa chính là Tượng Trần Khánh Dư trong đền đảo Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh)
Vân Đồn cũng như Phú Quốc, được chính phủ cơ cấu thành “đặc khu kinh tế”, khi ấy chắc chắn lượng khách thập phương sẽ đổ đến nhiều, các bạn - những người đang đọc bài viết này, rồi cũng sẽ có cơ hội đến đó. Nếu có dịp ghé thăm Vân Đồn, các bạn nhớ thắp hương cho vị tướng tài Trần Khánh Dư. Người mà 700 năm trước, đã tạo bước ngoặt quan trọng cho chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ 3, và giữ nên bờ cõi Đại Việt còn mãi đến hôm nay.
Năm 1323, tức 35 năm sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ 3. Trần Khánh Dư xin về trí sĩ. Ở những năm cuối đời, ông đã góp phần khai khẩn nên hai xã Yên Nhân và Yên Đồng, của huyện Ý Yên (Nam Định) ngày nay. Tạo nên đóng góp lớn nhất của ông trong thời bình.
Lời kết:
Năm 1340, Trần Khánh Dư mất. Khép lại chặng đời của một vị tướng thật đặc biệt trong lịch sử thời đại phong kiến của Việt Nam. Một vị tướng trên tầm thời đại về kinh doanh, về tự do con người. Ông đã sống bằng cái chất ngạo nghễ ít ai bằng, đạp trên thói đời của thiên hạ ít. Ông phá đảo những tàn tích cũ kỹ. Chuyện mình, mình làm, không quan tâm đến những gì sau lưng. Cuộc đời ông có sai, có đúng, có bi kịch, có vinh quang, nhưng ông đã không hổ thẹn một kiếp người. Khi khép lại tất cả, ông là vị tướng đã tạo nên công tích còn mãi đến ngàn thu, nhưng cũng đã để lại một câu nói và hành động tàn bạo với người dưới quyền, cùng kiểu đánh "nhất tướng công thành vạn cốt khô" .

Share:

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

PHẢN ĐỘNG LÀ GÌ?

Sẽ là một thiếu sót nếu trang 'Ghét Phản Động' lại không có một bài định nghĩa đầy đủ về 'phản động' và chỉ rõ ra thành phần nào là đối tượng chủ yếu của các bài viết được Hội đăng. Nhiều bạn cũng thường đưa ra thắc mắc rất chính đáng với câu hỏi 'phản động là gì?', cho nên bài viết này sẽ là lời giải đáp chính thức cho những thắc mắc đó.

Cuộc Cách Mạng Pháp đã cho ra đời ba từ chính trị để mô tả những phe phái chính trị chống lại sự tiến bộ. Đó là phản động, bảo thủ và cánh hữu. Trong cách dùng gốc của tiếng Pháp, phản động có nghĩa là 'một hoạt động hay phong trào hướng đến việc đảo ngược một khuynh hướng hay tình trạng đang có' và một 'sự quay lại với một trật tự cũ trước đó'.





Trong cuộc Cách mạng Pháp, các lực lượng bảo thủ (đặc biệt là Giáo hội Công giáo La mã) đã tổ chức phe đối lập chống lại những thay đổi chính trị xã hội và kinh tế do cuộc cách mạng đem lại. Họ tranh đấu để xác lập trở lại quyền lực của phong kiến và Giáo hội. Trong thế kỷ 19 sau đó, thành phần phản động bao gồm giới tăng lữ, quí tộc, hoàng gia, và đám trung thành với họ. Những người phản động thích nhà nước thuộc về tầng lớp quí tộc thay vì tầng lớp trung lưu hay lao động.



Liên hệ với trường hợp Việt Nam. Sư cai trị của thực dân và phong kiến có nhiều bất công và thối nát đến cực độ nên mới có nhiều cuộc nổi dậy hoặc cách mạng với các mức độ khác nhau để nhằm thay đổi hay lật đổ nó. Chính tổng thống Mỹ Roosevelt cũng thừa nhận rằng 'sau 100 năm dưới sự cai trị của thực dân Pháp, đời sống của người dân bản xứ còn tệ hơn trước đó'.



https://www.mtholyoke.edu/acad/intrel/fdrjs.htm



Vì vậy khi thực dân Pháp quay lại Việt Nam và muốn đảo ngược lịch sử trở lại thời thuộc địa thì nó là thành phần phản động. Những tay sai người Việt theo Pháp do đó cũng là thành phần phản động. Việt Nam đã trở thành một nước độc lập nhưng hai thành phần trên lại muốn trở lại thời thực dân do Pháp nắm đầu và Bảo Đại tiếp tục chấp nhận làm bù nhìn dưới danh nghĩa 'Quốc gia Việt Nam'.



Quân đội của 'Quốc gia Việt Nam' đã sát cánh cùng lực lượng viễn chinh Pháp trong cuộc chiến với Việt Minh và sau cùng là trận Điện Biên Phủ. Những người lính 'Quốc gia Việt Nam' này rất nổi tiếng với việc hát vang Quốc ca Pháp khi xung trận! 



http://www.vietnamwar.net/ARVN.htm



Sau khi Pháp thua và phải cuốn gói, thành phần phản động trên không muốn tử bỏ kiếp tay sai nên đã nhanh chóng bám ngay vào chân Mỹ luôn khi Mỹ nhảy vào. Có thể đơn giản hóa phản động người Việt là thành phần sống ngược nghĩ ngược. Người ta đã bước một bước tiến bộ hơn xong rồi nhưng họ lại cố kéo người ta trở lại chỗ cũ như trước đó. 



- Đất nước đã giành được độc lập rồi thì họ lại muốn bám vào chân quân thực dân đế quốc xâm lược để tiếp tục bị lệ thuộc. Dân tộc gần thống nhất được ba miền sau khi bị thực dân Pháp chia để trị gần 100 năm thì họ lại muốn tiếp tục chia Việt Nam làm hai. Dân xem thực dân đế quốc là giặc thì họ lại xem là 'đồng minh'. Dân xem Việt minh cộng sản là lãnh đạo chống giặc thì họ lại xem là kẻ thù!



- Ngày nay khi Việt Nam đã thống nhất gần 40 năm thì họ vẫn nghĩ ngược lại với dân tộc, vẫn mơ mộng về một thời kỳ đất nước bị chia cắt, cả nước ăn bom đạn thừa mứa của Mỹ mỗi ngày để họ được sống sung sướng trong một ốc đảo gọi là 'Hòn ngọc Viễn Đông' mà thực chất nó là Tổng hành dinh của quân xâm lược. Ngày toàn dân ăn mừng đất nước thống nhất bị họ nghĩ ngược thành ngày 'quốc hận'. Đúng như lời Tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt nói: 'Phản động là những kẻ mộng du đi lùi.'



- Khi đất nước bị ngoại xâm đô hộ nắm đầu, họ không cảm thấy có nhu cầu làm cách mạng để thay đổi. Ngược lại họ lại rất hãnh diện, hạnh phúc làm tay sai cho giặc chà đạp lên nguyện vọng độc lập của dân tộc. Khi đất nước hòa bình độc lập thống nhất và do người Việt Nam nắm quyền, họ lại muốn làm cách mạng lật đổ! Họ vẫn tiếp tục trung thành để Mỹ giật dây chống lại hòa bình ổn định dưới những chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, thậm chí là 'yêu nước', những thứ mà chẳng bao giờ họ có hay thực hành cả! 



Vì có cái thể loại phản động như trên đêm ngày dựng chuyện, xuyên tạc, lừa phỉnh, dụ dỗ, moi móc để phá hoại hòa bình ổn định của Việt Nam nhằm thỏa mãn hận thù tiểu nhân, vô tình hoặc cố ý nối giáo cho giặc đang lăm le bên ngoài cho nên mới có cái trang như thế này.



Hội cũng có nhiều bài về Mỹ vì Mỹ là đầu sỏ phản động quốc tế. Hành động của Mỹ đã quay ngược bánh xe lịch sử ở nhiều nơi trên TG như vùng Châu Mỹ Latin và Trung Đông hay Châu Phi và chính Việt Nam. Nhiều chính quyền tiến bộ đã bị lật đổ và thay thế bằng những chính quyền quân sự độc tài hoặc tôn giáo cực đoan. Mỹ luôn dùng quyền lực kinh tế chính trị quân sự để o ép các nước khác phải thần phục mình, muốn làm bá chủ thế giới trong khi nhân dân thế giới luôn mong muốn một thế giới đa cực; các quốc gia có tiếng nói bình đẳng hơn. Mỹ luôn dùng chiêu bài dân chủ để thực hiện một mục tiêu rất phản dân chủ là làm bá chủ thế giới. Thời Tổng thống Franklin Roosevelt là một ngoại lệ. Tổng thống này đồng ý với Stalin trong việc trả lại các thuộc địa cho các dân tộc bản xứ sau Thế chiến II. Những người kế nhiệm của ông đã đi ngược lại ý muốn đó.



Mỹ là quốc gia chuyên môn khuyến khích, giật dây thành phần phản động chống cộng người Việt, là một chiêu trò o ép Việt Nam để thực hiện mục tiêu nói trên.



Có nhiều bạn thường hay hỏi hoặc ghép tội tham nhũng là phản động. Chuyện này là sai vì tôi đã so sánh định nghĩa tham nhũng với phản động và thấy chúng chẳng có điểm nào liên quan cả. Các bạn nếu muốn Việt Nam phát triển thì cần phải học suy nghĩ và làm việc một cách thật lý tính khoa học. Đừng suy diễn bậy bạ, chụp mũ lung tung bằng cảm tính.
__Theo blog Meo Meo__ 


Share:

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

TÍNH ĐẶC THÙ THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

Kinh tế thị trường khắc phục được kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc, đẩy mạnh phân công lao động xã hội, phát triển ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động, khuyến khích ứng dụng công nghệ - kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất lao động, tăng số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, thúc đẩy tích tụ tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, thúc đẩy việc phát huy tính năng động sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế, đồng thời tạo ra cơ chế phân bổ và sử dụng các nguồn lực của xã hội hợp lý, tiết kiệm,... Vì vậy, phát triển kinh tế thị trường được coi là chiếc “đòn xeo” để xây dựng chủ nghĩa xã hội, là phương tiện khách quan để xã hội hóa xã hội chủ nghĩa (XHCN) nền sản xuất. Không thể có nền kinh tế thị trường ở nước này lại là bản sao của kinh tế thị trường ở nước khác. Trong các tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị trường này với nền kinh tế thị trường khác, phải kể đến định hướng chính trị, kinh tế, xã hội chi phối sự vận động phát triển của nền kinh tế.




Ở nước ta những định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường là:

  • Thứ nhất, thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
  • Thứ hai, phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
  • Thứ ba, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
  • Thứ tư, phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
  • Thứ năm, xây dựng một nền kinh tế thị trường hòa nhập vào nền kinh tế thị trường khu vực và thế giới với nhiều hình thức quan hệ và liên kết phong phú đa phương, đa dạng.



Với định hướng trên, mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác định là tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế; nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, tăng thêm các nguồn lực mới bằng cách nâng cao tỷ lệ tiết kiệm, tăng tích lũy và đầu tư hiện đại hóa, đổi mới cơ cấu kinh tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,... để đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo và kém phát triển.


Theo mục tiêu đó, có thể xác định những đặc trưng bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta:


Một là, kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu tổ chức nền kinh tế trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ một nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế còn kém phát triển. Kiểu tổ chức nền kinh tế này nhằm nhanh chóng đưa nước ta đạt đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.


Hai là, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một nền kinh tế gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể phải trở thành nền tảng và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều vận động theo định hướng chung và theo khung khổ pháp luật của nhà nước XHCN.


Ba là, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của CNXH.


Bốn là, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế “mở” cả với bên trong và với bên ngoài. Tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội, hoạt động của cơ chế thị trường không chỉ chịu sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường nói chung, mà còn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất chủ đạo.


Do vậy, mô hình cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN) và trong nền kinh tế định hướng XHCN có những đặc điểm khác nhau cơ bản:


Thứ nhất, về chế độ sở hữu. Cơ chế thị trường trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa luôn hoạt động trên nền tảng của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, trong đó các công ty tư bản độc quyền giữ vai trò chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Cơ chế thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN lại hoạt động trong môi trường của sự đa dạng các quan hệ sở hữu, trong đó chế độ công hữu giữ vai trò là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Tính định hướng XHCN đòi hỏi trong khi phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần phải củng cố và phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế có khả năng điều tiết, hướng dẫn sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà nước phải được củng cố và phát triển ở các vị trí then chốt của nền kinh tế, ở lĩnh vực an ninh - quốc phòng, ở các lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiết... mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư vì không sinh lời hoặc ít lãi.


Thứ hai, về tính giai cấp của nhà nước và mục đích quản lý của nhà nước. Trong cơ chế thị trường TBCN, sự can thiệp của nhà nước luôn mang tính chất tư sản và trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhằm bảo đảm môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp tư sản, cho sự bền vững của chế độ bóc lột TBCN. Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, thì sự can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa vào nền kinh tế lại nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của toàn thể nhân dân lao động, thực hiện mục tiêu, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Thứ ba, về cơ chế vận hành. Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cơ chế đó bảo đảm tính hướng dẫn, điều khiển nền kinh tế nhiều thành phần hướng tới đích XHCN theo phương châm: Nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trường hướng dẫn doanh nghiệp. Cơ chế đó thể hiện ở các mặt cơ bản: Một là, Nhà nước XHCN là nhân tố đóng vai trò “nhân vật trung tâm” và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Hai là, cơ chế thị trường là nhân tố trung tâm của nền kinh tế, đóng vai trò “trung gian” giữa Nhà nước và doanh nghiệp.


Thứ tư, về mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với công bằng xã hội. Trong sự phát triển của kinh tế thị trường TBCN, vấn đề công bằng xã hội chỉ được đặt ra khi mặt trái của cơ chế thị trường đã làm gay gắt các vấn đề xã hội, tạo ra nguy cơ bùng nổ xã hội, đe dọa sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Song, vấn đề đó không bao giờ và không thể nào giải quyết được triệt để trong chế độ TBCN. Mục đích giải quyết các vấn đề xã hội của các chính phủ tư sản chỉ giới hạn trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản, chỉ được xem là phương tiện để duy trì chế độ TBCN. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước chủ động ngay từ đầu việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Vấn đề công bằng xã hội không chỉ là phương tiện để phát triển nền kinh tế thị trường mà còn là mục tiêu của chế độ xã hội mới. Sự thành công của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng cao mà còn ở chỗ mức sống thực tế của mọi tầng lớp dân cư đều được nâng lên, y tế, giáo dục đều phát triển, khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp, đạo đức, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ vững, môi trường sinh thái được bảo vệ.


Thứ năm, về phân phối thu nhập. Sự thành công của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không chỉ dừng lại ở tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm tốt các vấn đề xã hội và công bằng, bình đẳng trong xã hội. Đặc trưng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thể hiện: Một là, xác định các chỉ tiêu hiệu quả cần đạt được, như tốc độ tăng GDP/người; các chỉ tiêu về phát triển giáo dục, y tế, việc làm; về xóa đói, giảm nghèo; về văn hóa - xã hội; bảo vệ môi trường sinh thái,... Hai là, nâng cao chức năng xã hội của Nhà nước XHCN trong chế độ bảo hiểm xã hội, trong chính sách phân phối thu nhập, đồng thời có chính sách bảo đảm xã hội đối với những đối tượng đặc biệt (gia đình có công với cách mạng, thương binh, người tàn tật,...).


Tình hình đó đặt ra cho kinh tế thị trường định hướng XHCN phải kết hợp hài hoà 3 vấn đề sau đây:
1- Kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội. Mục đích của sự kết hợp này là vừa bảo đảm cho các chủ thể của kinh tế thị trường có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính trị - xã hội bình thường cho sự phát triển kinh tế.
2- Kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của CNXH và nguyên tắc của kinh tế thị trường, như phân phối theo lao động, theo vốn, theo tài năng, phân phối qua quỹ phúc lợi xã hội,... Trong đó, nguyên tắc phân phối theo lao động là chính.
3- Điều tiết phân phối thu nhập, một mặt, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách sao cho giảm bớt khoảng cách chênh lệch giàu và nghèo...; mặt khác, phải có chính sách, biện pháp nâng cao thu nhập chính đáng của người giàu, người nghèo và của toàn xã hội.



Tuy vậy, nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay vẫn còn mang nặng những đặc điểm:


Một là, kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế quá độ. Tính quá độ thể hiện ở chỗ trong nền kinh tế bao gồm nhiều loại hình sản xuất hàng hóa đan xen nhau: sản xuất hàng hóa XHCN, sản xuất hàng hóa TBCN và sản xuất hàng hóa nhỏ... (nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu khác nhau tham gia sản xuất hàng hóa). Mỗi kiểu sản xuất hàng hóa có những nét đặc thù về bản chất kinh tế - xã hội và trình độ phát triển, nhưng nó đều là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân thống nhất, hình thành và chịu sự chi phối của một thị trường xã hội thống nhất với các quan hệ cung - cầu, giá cả chung, một đồng tiền chung... Bởi vậy, các loại hình sản xuất này vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu và quyền thu nhập hợp pháp. Nhưng các kiểu sản xuất hàng hóa này không còn giữ nguyên bản chất, vì nó mang tính chất quá độ. Nhân tố kinh tế và quan hệ kinh tế trong sản xuất hàng hóa của mỗi thành phần kinh tế đều đã xuất hiện những cái mới. Ví dụ, trong sản xuất hàng hóa TBCN đã có những nhân tố kinh tế của kinh tế nhà nước, như điện, nước, kết cấu hạ tầng, thông tin liên lạc,... và đã có những quan hệ kinh tế với các thành phần kinh tế khác, chịu sự quản lý của Nhà nước XHCN...Trong nền kinh tế thị trường quá độ, sản xuất hàng hóa XHCN giữ vai trò chủ đạo, định hướng đối với các kiểu sản xuất hàng hóa khác.


Hai là, kinh tế thị trường còn ở trình độ chưa phát triển. Biểu hiện ở số lượng mặt hàng và chủng loại hàng hóa nghèo nàn, khối lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường và kim ngạch xuất nhập khẩu còn nhỏ, chi phí sản xuất và giá cả hàng hóa cao, chất lượng hàng hóa thấp, quy mô và dung lượng thị trường hạn hẹp; sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và hàng hóa trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài còn yếu; đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp giỏi còn ít, thu nhập của người lao động còn thấp, do đó sức mua còn hạn chế; nhiều loại thị trường còn ở trình độ thấp, như thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường sức lao động,... Trình độ phát triển thấp của sản xuất hàng hóa bắt nguồn từ trình độ thấp của lực lượng sản xuất, từ tính chất sản xuất nhỏ của nền kinh tế, từ trình độ phân công lao động xã hội kém phát triển, từ sự kém phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng, lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng lớn, từ sự nhận thức giản đơn về CNXH...


Ba là, nền kinh tế thị trường phát triển theo hướng hoà nhập vào thị trường thế giới. Cách mạng khoa học - công nghệ càng phát triển càng làm cho lực lượng sản xuất phát triển đạt trình độ xã hội hóa cao, dẫn đến quá trình khu vực hóa, quốc tế hóa nền kinh tế ngày càng mở rộng. Do vậy, phát triển kinh tế thị trường không chỉ dựa trên cơ sở điều kiện trong nước, mà còn phải tính đến quan hệ kinh tế quốc tế, đến xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế. Nền kinh tế thị trường của mỗi quốc gia muốn phát triển thuận lợi không thể không gắn với thị trường thế giới. Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã làm cho số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa cho tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân ngày càng phong phú, đa dạng, mà bất cứ một nước nào dù là nước phát triển nhất cũng không thể sản xuất tất cả các loại hàng hóa. Vì vậy, mỗi nước phải tùy theo lợi thế của mình, lựa chọn những mặt hàng sản xuất có hiệu quả và cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Sản xuất hàng hóa ở nước ta chỉ có thể phát triển mạnh mẽ nếu thu hút có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài và áp dụng những tiến bộ công nghệ, kỹ thuật hiện đại của thế giới để khai thác những tiềm năng còn rất lớn trong nền kinh tế. Muốn vậy, con đường đúng đắn là phát triển nền kinh tế mới hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả.


Bốn là, phát triển kinh tế thị trường gắn với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển kinh tế thị trường gắn với nền kinh tế mở là tất yếu, nhưng trong quá trình đó, bên cạnh việc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, thì cũng có nguy cơ du nhập những yếu tố văn hóa xa lạ với truyền thống, đặc điểm của dân tộc. Muốn giữ được nền kinh tế thị trường mang bản sắc văn hóa Việt Nam phải thực hiện có hiệu quả sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận lối sống thực dụng với sự chi phối tất cả của đồng tiền, không chấp nhận việc thương mại hóa mọi hoạt động đời sống xã hội, mà đề cao những chuẩn mực giá trị văn hóa và đạo đức, đồng thời đấu tranh xóa bỏ những tập tục và lối sống cổ hủ, lạc hậu. Kết hợp sự chọn lọc tinh hoa của văn minh nhân loại với việc giữ gìn những yếu tố tinh tuý của văn hóa dân tộc, xây dựng những nhân tố văn hóa XHCN.



Ở nước ta phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm bảo đảm các yêu cầu sau: Tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với những tiến bộ về công bằng xã hội, thực hiện mục tiêu “mọi lợi ích đều vì dân”, giải phóng con người, con người phát triển toàn diện. Phát triển kinh tế cao dựa trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Thành phần kinh tế nhà nước là chủ đạo, cùng kinh tế tập thể là nền tảng của kinh tế quốc dân. Các thành phần kinh tế khác phát triển theo sự quản lý của Nhà nước. Tính năng động của cơ chế thị trường phải gắn với sự quản lý của Nhà nước. Đa dạng các hình thức phân phối, phân phối theo lao động ngày càng chi phối. Không ngừng đổi mới và hoàn thiện quan hệ giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của đất nước, nhằm phát huy sức mạnh tổng thể quốc gia. Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo nguyên tắc ngày càng tăng nhanh sức sống nội sinh của dân tộc, biến yếu tố ngoại sinh thành yếu tố nội sinh.


Để phát triển kinh tế thị trưởng định hướng XHCN cần thực hiện những giải pháp sau:


Một là, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần.


Hai là, mở rộng phân công lao động, phân bố lại lao động và dân cư trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, từng vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.


Ba là, tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường.


Bốn là, đẩy mạnh cách mạng khoa học - công nghệ, nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.


Năm là, giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả.


Sáu là, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi, phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng XHCN.


Bảy là, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế thị trường./.
----------------------------------------------------------
Vũ Văn Phúc
PGS, TS, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản


Share:

TÌM KIẾM

ĐỒNG HỒ

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM

  • SỐ LƯỢNG BÀI VIẾT
  • SỐ LƯỢNG BÌNH LUẬN
  • SỐ LƯỢNG NGƯỜI XEM

ĐANG GHÉ THĂM

Người theo dõi