Tri thức là những giọt nước trong đại dương bao la!

Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chính trị thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2018

ODA - "SÁT THỦ KINH TẾ" CỦA NHẬT BẢN ?

Đối với Việt Nam, việc tiếp cận các nguồn vốn quốc tế, trong đó có vốn vay ODA, là cần thiết để phát triển. Tuy vậy, nếu như những nước cần vốn có “chiến lược nợ” của mình, thì các nước giàu cũng có “chiến lược cho vay” của họ. Vì thế, để xây dựng “chiến lược nhận” một cách thích hợp, các nước nghèo không thể không tìm hiểu “chiến lược cho” của đối tác.
Trên cơ sở tham khảo những công trình nghiên cứu có tính “vạch trần” về bản chất và chiến lược ODA của Nhật Bản, do chính các học giả xứ Phù Tang thực hiện và công bố, bài viết này chỉ ra “binh pháp ODA” của họ, nhằm cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam một góc nhìn tham chiếu trước khi đưa ra quyết định.



Tiếng nói phê phán ODA của học giả Nhật

Trong ngôn ngữ ngoại giao, người ta coi ODA là biểu hiện của tình ưu ái của người cho đối với người nhận. Tuy vậy, ngay tại Nhật Bản, cũng có nhiều học giả, với tinh thần trung thực trong khoa học, đã “vạch trần” bản chất thực của chính sách ODA của chính đất nước mình.

Chẳng hạn, cuốn “Sự thật viện trợ ODA” của Sumi Kazuo, giáo sư Đại học Yokohama, là một trong những công trình như vậy. Cuốn sách này tuy dung lượng ngắn, nhưng có thể dẫn dắt người đọc lần theo đường đi nước bước của dòng chảy ODA ở những trường hợp cụ thể. Ngoài ra, tìm hiểu về ODA Nhật, không thể không đọc công trình nghiên cứu của tập thể học giả Fuke Yousuke, Fujibayashi Yasushi, Satake Youko, Moriyama Hiroshi, Nagase Riei, Miyauchi Taisuke, Ishikawa Kiyoshi. Cuốn sách của họ có tiêu đề “ODA – vì cuộc sống của người Nhật Bản”. Các tác giả là những thành viên của một tổ chức học thuật phi Chính phủ: Hội Điều tra Nghiên cứu về ODA (ODA Chosa Kenkyu Kai), thành lập năm 1988.

Từ 5/1991 đến 3/1992, họ đã liên tục thuyết trình các kết quả nghiên cứu của mình về vấn đề viện trợ ODA của Nhật Bản. Sau đó, họ tiếp tục khảo cứu các tư liệu mới, đồng thời tiến hành điều tra thực địa tại các nước nhận ODA của Nhật Bản, và viết thành cuốn sách nói trên, xuất bản vào năm 1999, sau hơn 10 năm theo đuổi đề tài, với ngồn ngộn những tài liệu, số liệu, hình ảnh được xử lý và trình bày một cách khoa học.

Cuốn sách đã “vạch trần” bản chất đồng tiền ODA của Nhật, giúp chúng ta hiểu rằng, đằng sau những lời lẽ ngoại giao mỹ miều là một vũ khí kinh tế đặc biệt, mà như các tác giả khẳng định ở mục cuối của cuốn sách: Ngày xưa chúng ta dùng chiến tranh, ngày nay chúng ta dùng ODA.

Ngay cả Đài Truyền hình Trung ương Nhật Bản NHK cũng từng có chương trình phát sóng điều tra về sự thật ODA, trong đó, tập trung vào những dự án ODA điển hình của tinh thần “vì Nhật Bản”. Nhìn chung, từ những nghiên cứu như vậy mà tiếng nói đề xuất cải cách chính sách ODA ngày càng mạnh mẽ ở Nhật Bản. Dưới đây xin giới thiệu cụ thể hơn góc nhìn của họ về ODA Nhật Bản.

“Ngày xưa: chiến tranh, ngày nay: ODA”

Để hiểu bản chất của đồng ODA Nhật Bản ngày hôm nay, ở thế kỷ 21 này, các tác giả của sách “ODA vì cuộc sống của người Nhật Bản” dẫn chúng ta quay ngược về quá trình hình thành và diễn biến của chiến lược ODA của đất nước họ. Chiến lược ODA của Nhật Bản được xây dựng cùng với việc phải tuân thủ hiệp ước San Francisco 1951, theo đó Nhật phải bồi thường chiến tranh cho một số nước châu Á. Họ đã khôn khéo làm cho những đồng tiền “bồi thường” ấy quay trở về phục vụ lại cho chính họ.

Ví dụ, Nhật đã “bồi thường chiến tranh” cho Indonesia như thế nào? Trong quá trình đàm phán bồi thường, họ đã khôn khéo lồng vào ý sau đây trong điều khoản: “Nhật Bản sẽ cung cấp cho Indonesia các dịch vụ và sản phẩm của Nhật Bản trị giá tương đương 80,3 tỷ Yên” 

Nhiều khách sạn ở Indonesia xây bằng tiền bồi thường nhưng không phải để bồi thường cho người dân.


Kết quả, Nhật Bản “bồi thường” cho Indonesia bằng cách xây dựng... những khu khách sạn cao cấp, những tòa căn hộ sang trọng, những khu mua sắm đắt tiền, những nhà máy sản xuất giấy, vải, gỗ... Những thứ này, nói như các tác giả của sách, “không thể hiểu nổi sao có thể gọi đó là bồi thường chiến tranh”. Bởi một mặt, những thứ này không phải “bồi thường” cho nhân dân Indonesia, và mặt khác, chúng đã làm rất nhiều nhà máy sản xuất giấy và ván ép non yếu của Indonesia phá sản.

Để có thể “bồi thường” như vậy, chắc chắn không thể không nhờ đến cả những đàm phán sau cánh cửa.

Họ đã chuyển hóa sự “bồi thường” cho nạn nhân thành cái chính mình hưởng lợi, còn nạn nhân thì không được gì, hoặc được rất ít không như công bố, thậm chí bị thiệt hại nặng hơn trước. Cùng sự sự phục hưng kinh tế của Nhật sau chiến tranh, chiến lược ODA cũng được thực thi mạnh mẽ theo nguyên tắc nói trên. Những quốc gia “ngây thơ”, vô tình hoặc cố ý, bắt đầu một cuộc đua tài trí tuệ không cân sức với Nhật Bản.

Xin điểm qua một vài trường hợp điển hình.

Từ những năm 70, do các quốc gia ven biển bắt đầu được nhận vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, các công ty đánh bắt hải sản của Nhật bắt đầu bị hạn chế đánh bắt ở những ngư trường giàu có của nước cộng hòa Kiribati thuộc trung tây Thái Bình Dương. Hàn Quốc thì trả tiền cho Kiribati để được tiếp tục đánh bắt. Nhật thì triển khai một chiến lược khác. Họ đề xuất cho Kiribati cái gọi là “Viện trợ không hoàn lại trong lĩnh vực thủy sản”, tặng cho nước này mấy chiếc tàu đánh cá và kho bảo quản hiện đại, và rồi khai thác hải sản của Kiribati với giá rẻ. 

Giáo sư Sumi Kazuo trong sách “Sự thật của viện trợ ODA”, cũng chỉ ra rằng, giữa những năm 70, ngành sản xuất nhôm của Nhật bắt đầu gặp khó khăn, chính phủ Nhật lập tức xây dựng dự án viện trợ ODA cho Indonesia trong lĩnh vực khai thác nguyên liệu sản xuất nhôm trên đảo Sumatra. Mục đích của nó không chỉ là “hợp tác quốc tế”, mà còn là, như chính họ nói, nhằm “đầu tư để xác lập thế trận bảo vệ có tính chiến lược đối với nguyên liệu nhôm của đất nước chúng ta”.

Cùng với sự phục hưng kinh tế Nhật sau chiến tranh, “nền sản xuất số lượng lớn” và “xã hội tiêu thụ với số lượng lớn” sẽ không thể đứng vững nến không có một quá trình “tiêu hủy rác thải số lượng lớn”. Và vì thế, viện trợ của Nhật cho Indonesia liên quan đến rác cũng được đưa vào cỗ máy ODA này. “Ở Indonesia, một hệ thống xử lý rác thải tương thích với thực tiễn của Indonesia đã không hề được xây dựng, mà thay vào đó, những cơ sở “hiện đại hóa” thu gom rác quy mô lớn đã được xây dựng bằng ODA. Indonesia đã chăm sóc một lượng rác lớn của người Nhật”.

“Binh pháp” nào đã giúp Nhật thực hiện thành công những điều trên? Đó là cả một “thế trận” được sắp xếp một cách bài bản. Để tồn tại trước thế lực này, Việt Nam cần có một thế trận bài bản tương ứng.

“Binh pháp” của ODA Nhật Bản

Những nghiên cứu nói trên tuân thủ nguyên tắc thực chứng luận vốn có ảnh hưởng sâu đậm trong khoa học xã hội Nhật Bản, vạch trần bản chất của vấn đề thông qua việc phân tích các chuỗi sự kiện, mà không kèm theo bình luận chủ quan nào.

Thông qua những gì họ trình bày, người đọc dễ dàng nhìn thấy một thế trận chặt chẽ và bài bản để vận hành cỗ máy ODA ấy. “Binh pháp ODA” bao gồm cái cấu trúc này và sự vận hành của nó. Ở đây sẽ trình bày về “binh pháp” này và minh họa bằng một ví dụ cụ thể.

Thành tố đầu tiên trong binh pháp ODA Nhật là các Hiệp hội nghề nghiệp.

Các Hội nghề nghiệp của Nhật vận hành theo nguyên tắc của một xã hội dân sự, không bị can thiệp bởi chính quyền.

Những người trong cùng một ngành nghề, theo quy luật thị trường, sẽ phải cạnh tranh với nhau để sống còn. Nhưng ở Nhật Bản, văn hóa hiệp hội phát huy hiệu quả cao đến mức, quy luật này vận hành một cách khác thường.

Trong phạm vi hiệp hội, các thành viên coi cạnh tranh không phải là một hình thức tiêu diệt lẫn nhau, ngược lại, “cạnh tranh” là một hình thức của... “hợp tác”, thúc đẩy tinh thần thi đua và thử sức để cùng vươn lên.

Khi đối diện với người nước ngoài, chủ nghĩa ái quốc trong kinh tế được phát huy cao độ. Các thành viên sẽ hợp tác với nhau, gác qua cạnh tranh nội bộ, cùng nhau “sống còn” với đối thủ. Đó là cách họ bước ra thế giới từ hơn một thế kỷ nay.

Chính các tổ chức nghề nghiệp chứ không phải ai khác, là lực lượng đầu tiên đề xuất cho chính phủ của họ các dự án ODA cho các quốc gia bị họ xem là “con mồi”.

Thành tố thứ hai là tổ chức JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản). Giáo sư Sumi Kazuo ở Đại học Yokohama, trong sách “Sự thật của viện trợ ODA”, đã phân tích về bản chất của JICA như sau.

“Nhìn chung, có thể xem JICA là cơ quan thực hiện viện trợ không hoàn lại về mặt kỹ thuật và tài chính cho các nước đang phát triển. Quả thực, các hoạt động của JICA cũng có hướng đến những hoạt động kiểu như vậy. Tuy nhiên, ngoài chức năng ấy, JICA còn thực hiện cả các dịch vụ hỗ trợ cho các công ty Nhật. Nguồn tài chính được dùng thực hiện điều này là “Vốn đầu tư phát triển”. Việc JICA cho các công ty Nhật vay dài hạn với lãi suất thấp và điều kiện cực mềm, trong khuôn khổ “Vốn đầu tư phát triển”, là điều còn ít được biết đến” .

“Vốn đầu tư phát triển” của JICA có hai loại. Một loại cho vay liên quan đến chuẩn bị cơ sở vật chất, và loại kia cho vay phục vụ cho “những công việc liên quan đến thí nghiệm”, là loại tiền xuất ra để “vừa bảo hiểm nợ vừa cho vay liên quan đến những sự nghiệp có tính tiên phong và khó khăn” như “thực hiện việc cải tiến kỹ thuật của doanh nghiệp”

Trong trường hợp doanh nghiệp Nhật đầu tư ra nước ngoài, với danh nghĩa “cao cả” là cơ quan thúc đẩy “hợp tác” và “phát triển” có tính “quốc tế”, JICA sẽ sử dụng loại vốn thứ 2 để đảm nhiệm vai trò phát hiện mục tiêu, nghiên cứu và đề xuất các dự án cho vay ưu đãi ODA đối với quốc gia “mục tiêu”, chuẩn bị về mặt tri thức và quan hệ cho các doanh nghiệp Nhật.

Các dự án cho vay ODA được điểm qua ở trên đều do JICA đảm nhiệm khâu đầu tiên: nghiên cứu, viết dự án, thuyết phục nước sở tại, vận động hành lang... nhằm đạt đến mục đích cho họ vay ODA.

Mấu chốt của binh pháp ODA nằm ở quá trình thuyết phục con mồi. Như phân tích của giáo sư Sumi Kazuo, họ tạo ra và duy trì một “nhu cầu viện trợ giả tạo” , hướng đến “lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhật” và “đưa ô nhiễm của Nhật ra nước ngoài”.

Thành tố thứ ba là Chính phủ. Chính phủ đảm đương công việc kết nối tất cả các đầu mối trong nước và quốc tế, đảm bảo sự vận hành thông suốt của guồng máy ODA.

Ta hãy thử hình dung cách vận hành của “thế trận” nói trên trong một “trận đánh” cụ thể của họ.

Sách “ODA vì cuộc sống của người Nhật Bản” đã trình bày diễn biến và kết quả của dự án ODA trồng rừng ở đông bắc Thái Lan từ 4/1992 đến 3/1997. Dự án này được đặt tên là “Hợp tác quốc tế vì màu xanh”, nhưng kết quả cuối cùng là biến vùng đông bắc Thái Lan thành vùng cung cấp... gỗ bạch đàn sản xuất giấy cho Nhật Bản.

Khảo sát diễn biến của “trận đánh” này, ta sẽ thấy rõ cách thức hoạt động của “thế trận” bộ ba “Chính phủ – JICA – Giới tư bản” trong quá trình vận hành của một dự án ODA.

Câu chuyện bắt đầu từ nhu cầu của Nhật Bản. Người Nhật tiêu thụ giấy thứ 4 thế giới (trung bình một người 245 kg/1 năm), ngành công nghiệp giấy của Nhật sản xuất 3000 vạn tấn giấy/ năm (số liệu năm 1996). Tuy vậy, từ những năm 80, khi chính sách bảo vệ môi trường được xiết chặt, các doanh nghiệp giấy Nhật bắt đầu tăng cường mua gỗ bạch đàn ở nước ngoài, đặc biệt là của Thái Lan.

Và vì thế, một dự án ODA được vạch ra để giới tư bản giấy Nhật có thể khai thác tài nguyên gỗ của Thái Lan với giá rẻ.

JICA lập tức xuất hiện. “Báo cáo nghiên cứu về kế hoạch trồng rừng vùng đông bắc Thái Lan” ra đời năm 1992. Báo cáo mở đầu bằng những lời tốt đẹp:

“Ở Thái Lan, 20 năm trở lại đây, dân số tăng nhanh, đất nông nghiệp được mở rộng, nhu cầu gỗ phát triển, cho nên vùng đông bắc Thái tỷ lệ che phủ rừng năm 1961 là 40% thì nay giảm còn 14%”.

Trên cơ sở đó, JICA đề xuất một kế hoạch trồng rừng cho vùng đông bắc Thái. Chính phủ Thái đồng ý về mặt chủ trương và yêu cầu các cơ quan chức năng thực hiện. JICA liền đề xuất một kế hoạch trồng rừng mà tên gọi thì hết sức tốt đẹp, “Hợp tác quốc tế vì màu xanh”, nhưng người Thái chỉ nhận ra cái bẫy của nó sau khi dự án được triển khai 7 năm, khi mà không còn có thể tưởng tượng rằng vùng đông bắc Thái từng là “vương quốc của rừng” nữa.

Kế hoạch JICA đề xuất với Thái Lan gồm 3 việc:

- Viện trợ không hoàn lại 3 tỷ Yên xây dựng 4 trung tâm trồng cây giống, cây non quy mô lớn, xây dựng các cơ sở huấn luyện, cung cấp xe cộ và các phương tiện cần thiết khác.

- Gửi đến Thái Lan các chuyên gia lâm nghiệp của Nhật để huấn luyện sản xuất cây giống và chỉ đạo việc trồng rừng.

- Phái đến “Đoàn thanh niên Hợp tác Quốc tế” của Nhật Bản để “khai sáng” cho nông dân Thái ý thức về tầm quan trọng của rừng và việc trồng rừng (“Khai sáng” là từ họ dùng trong nguyên văn)

Không rõ những thanh niên Nhật Bản kia đã “khai sáng” cho nông dân Thái Lan điều gì, nhưng nông dân Thái chỉ thích trồng bạch đàn vì đó là “loại cây biến thành tiền”, và không rõ 4 trung tâm sản xuất cây giống kia tạo ra loại cây gì, nhưng từ 1992 đến 1995, một trăm triệu cây giống được phát miễn phí cho nông dân Thái Lan để họ tự trồng rừng, và trong đó, hầu hết là cây bạch đàn để sản xuất giấy.

Khi cả một vùng đông bắc trồng bạch đàn, thì một mặt, giá bạch đàn ở đây sẽ vô cùng rẻ, và mặt khác, nguồn nước và nguồn dinh dưỡng của đất bị hủy hoại nghiêm trọng. Bên cạnh đó, việc nông dân được phát miễn phí cây giống bạch đàn với số lượng khổng lồ, là loại cây có lợi ích kinh tế trước mắt, đã làm cho diện tích rừng bạch đàn tăng vọt và diện tích rừng tự nhiên trước đó bị hủy hoại. Cái gọi là “hợp tác quốc tế” và “trồng rừng để bảo vệ thiên nhiên” chỉ là trò đùa. Hầu hết số tài sản 3 tỷ Yên của dự án đều phục vụ ngược lại cho Nhật Bản. Kết cục, dự án bị nhân sĩ Bangkok phản đối kịch liệt.

Nếu ví dự án ODA này là một cái bẫy thì cái lẫy then chốt của bẫy này là việc phát không cây giống cho nông dân tự trồng “rừng”. Thuyết minh cho chủ trương này, JICA đưa ra những lập luận tốt đẹp. Nông dân Thái Lan cũng đã trồng rừng một cách tự phát, vừa để bảo vệ môi trường vừa phục vụ nhu cầu cuộc sống. Vậy, có thể tận dụng điều này để thực hiện 2 việc một lúc: bảo vệ thiên nhiên và xóa đói giảm nghèo cho vùng đông bắc Thái. Làm sao chính phủ Thái có thể từ chối một lời đề nghị như thế?

Mưu kế này của JICA làm người ta nhớ lại những câu chuyện đấu trí được kể trong “Chiến quốc sách” ở bên Tàu.

Ở “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế” của John Perkins, người đọc không hiểu vì sao một cá nhân như ông lại có thể làm được một khối lượng công việc khổng lồ là lần lượt thuyết phục các chính phủ Châu Mỹ La tinh, Đông Nam Á, Trung Đông lao theo những dự án giả dối nhằm phục vụ lợi ích tư bản Mỹ. Nhưng, ở trường hợp Nhật Bản lại hết sức dễ hiểu: thực hiện điều này không phải là một cá nhân mà là cả một bộ máy trong đó có những tổ chức đóng vai trò xung kích.

Biện hộ cho ODA Nhật Bản

Dĩ nhiên, bản thân các học giả Nhật Bản khi phê phán chiến lược cho vay ODA thì cũng không có ý định phủ định sạch trơn mặt tích cực của nó. Không có gì là tiêu cực hoàn toàn. Chúng ta có thể liệt kê, trên bề mặt hiện tượng, vô số những lợi ích mà các dự án ODA mang lại. Ở Nhật Bản, có vô số sách vở ca ngợi ODA của Nhật là một “cống hiến” của dân tộc họ đối với thế giới.

Trong một cuốn sách biện hộ cho ODA Nhật, xuất bản năm 2003, Miura Yuuji, một trong những chuyên gia của JETRO (Hội Chấn hưng Ngoại thương Nhật Bản) và Watanabe Toshio, một giáo sư của Đại học Công nghiệp Tokyo, một mặt thừa nhận rằng, vào cuối những năm 50, vì khả năng cạnh tranh quốc tế của các công ty Nhật Bản còn yếu, cho nên “việc dùng ODA như một hình thức bảo hộ lợi nhuận của các công ty Nhật là sự biểu lộ rõ ràng của ý thức quốc gia”, nhưng mặt khác, theo hai tác giả, nếu tiếp tục nhìn bằng con mắt ấy trong bối cảnh “xã hội có tính quốc tế” hiện nay là sai, bởi vì ngày nay, “lực lượng xây dựng các dự án ODA rất đa dạng, không chỉ có các công ty Nhật mà còn có cả chính phủ nước được viện trợ, ngân hàng, JICA, các tổ chức và quốc gia tài trợ khác, thậm chí cả các công ty tư vấn không thuộc Nhật Bản cùng tham gia” .

Như vậy, cứ theo hai học giả trên thì có thể hiểu rằng, ngày nay ODA Nhật không còn là “ODA vì Nhật Bản” nữa mà đã thực sự là ODA “cao thượng”. Tuy vậy, cũng cần nói rằng, “sự đa dạng” ở trên thực chất không nói lên điều gì. Sự thật nằm ở kết quả cuối cùng mà những dự án đó đạt tới.

Có lẽ, nếu tranh cãi xem bên “phê phán” và bên “biện hộ”, bên nào đúng, bên nào sai, thì cuộc tranh cãi sẽ không bao giờ kết thúc. Vì dường như cả hai bên đều có mặt đúng của mình.

Viện trợ ODA của các nước giàu cho các nước đang phát triển như Việt Nam trở nên tốt hay không tốt, thì có lẽ, phụ thuộc vào phương thức tiếp nhận của phía chúng ta hơn là phụ thuộc vào người cho.

Vì vậy, Việt Nam không thể không xem xét hệ thống vận hành của ODA Nhật, để từ đó, nhìn lại lề lối suy nghĩ, “thế trận” và quá trình ra quyết định của chính mình. Nhìn từ góc độ này thì phải chăng, chúng ta đang tổ chức một “thế trận” hoàn toàn không tương thích với “thế trận” của đối phương/ đối tác?
-----
Nguyễn Lương Hải Khôi (Tokyo)

Share:

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

NỘI CHIẾN SYRIA, CHUYỆN IS, HỒI GIÁO CỰC ĐOAN: PHẦN 3 VÀ HẾT: CHUYỆN VỀ ĐẾ CHẾ HỒI GIÁO.

DŨNG PHAN

Chào các bạn. Đây là phần 3, và cũng là phần cuối cùng của câu chuyện. Hôm nay, tôi sẽ đi 1 vòng lịch sử, kể cho các bạn biết “Hồi giáo thực sự là thế nào?”
1. ĐẾ CHẾ MẠNH NHẤT THẾ GIỚI
Các bạn không hề đọc nhầm.
Hồi giáo từng là mạnh nhất lịch sử. Chúng ta có lẽ đều từng là những đứa trẻ mộng mơ đứng trước phiến đá và hô “Vừng ơi mở ra”. Đã từng sống trong một thế giới lung linh và đẹp diễm lệ, đặt đôi chân bước vào thế giới ấy trong mỗi giấc mơ của cuộc phiêu lưu với thuyền trưởng Sinbad. NGHÌN LẺ MỘT ĐÊM - những truyện cổ tích của nàng Sêhêrazat (Sheherazade) như “Alibaba và 40 tên cướp” “Aladdin và cây đèn thần”. Vâng, đó là đạo Hồi, lấy bối cảnh là Ba Tư, nhưng được viết ra trong thời đại hoàng kim Hồi giáo. Dùng chuyện xưa, miêu tả về thế giới Hồi giáo của thế kỷ 13.
Nghìn lẻ một đêm không chỉ là một tập truyện cổ tích, đó là cả một thế giới. “Thế giới của người A Rập trong cuộc đời thực tại cũng như trong cảnh thần tiên ma quái, thế giới của đạo Hồi từ khi có sử thành văn và đạo Hồi qua các truyền thuyết dân gian.” Có ai nói cho ta, những bom đạn hôm nay, chính là nói về những quốc gia của Nghìn lẻ một đêm hay không? Than ôi, Jordan, Iran, Bắc Phi, Ai Cập, Iraq, Syria...đã ở đó, và đẹp trong những câu chuyện cổ của nàng Sêhêrazat. Không phải như hôm nay, không phải như bây giờ với máu chảy, đầu rơi.
1.1 Ra đời
Vinh quang ấy đến từ nhà tiên tri Mohammed (570-632), lớn lên tại thánh địa Mecca. Sinh ra khi đã mất cha, và mất mẹ năm 6 tuổi, ông sống bằng sự chở che của một phụ nữ nô lệ da đen. Hoàn cảnh tạo nên một con người yêu thương đồng loại, thương quý người nghèo và kẻ cơ khổ. Ông nổi tiếng là một người hào hiệp, bảo vệ người yếu đuối, thông minh, tài năng và cả…đẹp trai. Ở tuổi 25, ông có một mối tình với người vợ hơn mình 15 tuổi. Theo truyền thuyết, năm Mohammed 40 tuổi, một sứ giả của thượng đế hiện ra và nói rằng ông đã được chọn để cứu giúp nhân loại. Từ đó, Mohammed bắt đầu truyền đạo Hồi trên khắp vùng Ả Rập. “Vạn sự khởi đầu nan”, những sự ủng hộ luôn có, nhưng sự dèm pha của những kẻ bất tài cũng không ít. Một ngày vào năm 615, Mohammed cùng khoảng 101 tín đồ Hồi giáo đã rời khỏi Mecca, nơi khai sinh nhưng cũng là nơi đố kỵ, nơi bảo thủ đã vùi dập lại ông khi thấy sức ảnh hưởng của những đoạn kinh Koran. Ông và những người ủng hộ đến thành phố Medina, ngày nay thuộc Ả Rập Saudi. Tại đây, khác với nơi cũ, ông được các tín đồ đón tiếp nồng nhiệt, trở thành lãnh tụ của phần đông người dân thành phố này. 7 năm sau, khi quanh ông đã hùng mạnh, Mohammed tuyên bố thành lập nên nhà nước Hồi giáo đầu tiên trong lịch sử. Không chỉ là người truyền giáo xuất chúng bậc nhất trong lịch sử, Mohammed còn là một vị đại tướng xuất sắc trên trận tiền ở những năm đầu thành lập nhà nước Hồi Giáo. Với 8 cuộc chiến tranh lớn và 38 hoạt động quân sự do ông trực tiếp chỉ huy, ngài đã bảo vệ được vương quốc non trẻ của mình trước mối đe dọa của hai đế chế mạnh nhất ở xung quanh là đế chế Byzantine (Đông La Mã) và đế chế Ba Tư (Iran), và mở rộng sức ảnh hưởng của hồi giáo đến Syria và các nước Ả Rập xung quanh.
Năm 627, ông đập tan liên minh 100.000 quân đến từ Mecca để đánh sập đế chế non trẻ. Thừa thắng xông lên, năm 630, Mohammed phát động cuộc chiến ở Mecca với 10.000 người, các cuộc vây diệt của ông nhanh chóng thu được thành quả. Thủ lĩnh Abu Sufyan của thành Mecca tuyên bố đầu hàng và xin gia nhập đạo Hồi. Vậy là sau 15 năm lưu lạc khỏi quê hương, Mohammed đã trở về quê hương Mecca trong tư thế hiên ngang của một “Trạng nguyên vinh quy bái tổ về làng”. Hành trình của một đứa trẻ mồ côi đi đến sự thống nhất ở quê hương, chẳng khác gì Gia Long Nguyễn Ánh của lịch sử Việt Nam.
Người đàn ông trẻ tuổi ngày nào, giờ đã làm nên được điều kỳ diệu khi thống nhất các bộ lạc vùng bán đảo Ả Rập dưới một tôn giáo tên là Hồi Giáo (Islam). Trên quê hương Mecca, trên danh nghĩa của thượng đế, của sứ giả cuối cùng mà thượng đế phái đến cho loài người, người đàn ông ấy nêu cao những lý tưởng đẹp đẽ nhất, đánh sập những suy đồi đạo đức, đánh sập hố ngăn giàu nghèo, bằng một lý tưởng thuần khiết do thượng đế ban tặng, phục vụ thượng đế, hướng đến những quyền về cơm ăn áo mặc, mưu cầu hạnh phúc và đặc biệt: quyền tự do cho phụ nữ. Tin nổi không? Thế kỷ thứ 7, mà người đàn ông ấy đã đưa ra những bộ luật để bảo vệ trẻ em gái, bảo vệ phụ nữ, đặt phụ nữ lên ngang hàng ở các quyền thừa kế. Để rồi 1400 năm sau, một bộ phận những kẻ đi theo giáo lý của ông, đã giải nghĩa những khái niệm nguyên sơ của Kinh Konran theo chiều hướng khác để vùi những người phụ nữ xuống bùn sâu của sự đau khổ, tủi nhục và những chiếc khăn choàng đen không thấy sự giải phóng.
Năm 632, Mohammed mất ở tuổi 62. Gia sản ngài để lại là một bán đảo Ả Rập thống nhất, là sự nhìn về một hướng của các bộ lạc Ả Rập, khi tất cả cùng nhau quy phục dưới một tôn giáo Islam. Những sơ khởi ban đầu do ông lập nên chính thức trở thành một chính thể hợp nhất. Để 100 năm sau, không chỉ mở rộng, mà còn đánh tan cả Châu Âu. Vì những công tích đã làm được mà đến hôm nay, Mohammed trở thành thần tượng, biểu trưng của sự vĩ đại của 1,6 tỷ người theo Đạo Hồi ngóng trông cho đến tận hôm nay. Nhưng, cũng trở thành sự lý giải rời khỏi nguyên sơ ban đầu, để tạo nên chia rẽ, chặt đầu, ngay trong lòng thế giới do ông tạo ra.
1.2 Chinh phục.
Abu Bakr được chọn làm người kế vị nhà tiên tri Mohammed, và phát triển con đường chinh phạt của thế giới Hồi Giáo. Trong đó, chiến dịch quan trọng nhất, là bước ngoặt để đội quân Hồi giáo trở thành thế lực mạnh nhất Trung Đông. Chính là việc chiếm thành Damascus từ đế chế Đông La Mã. Damascus, vâng, là thủ đô Syria đang chiến tranh loạn lạc hôm nay đấy. Những nỗ lực của hoàng đế La Mã Heraculius và chỉ huy đội quân phòng thủ tại Damascus là vô vọng. Cuộc vây ráp của tướng Khalid ibn Walid đã đưa đến chiến thắng cho quân đội Hồi Giáo. Thành Damascus trở thành trung tâm văn hóa Hồi giáo. Thất bại tại Damacus đã khiến cán cân giữa đế chế cũ là Byzantine và đế chế mới là Hồi giáo thay đổi. Đạo quân Hồi giáo đánh bại La Mã, tiến về Bắc Phi theo thế như chẻ tre, chiếm Ai Cập, Libya, Tunisia, Algeria và Morocco (mấy đại ca của "Mùa xuân Ả Rập" hôm nay đó). Năm 711, họ băng qua eo biển Gibraltar để tiến vào châu Âu. Vậy là 100 năm sau ngày mất của nhà tiên tri Mohammad, các đạo quân Hồi giáo đã chinh phục lãnh thổ rộng lớn trải dài từ Trung Đông đến Tây Ban Nha, trước khi đến vùng Gaul, ngày nay là nước Pháp.
Thế đấy, những người mà bạn nghĩ rằng mông muội và cực đoan trên tivi đã làm nên những điều vĩ đại như thế. Lịch sử thế giới đã vận động cho đến hôm nay xung quanh cuộc chiến tranh giữa Hồi giáo và Châu Âu. Đến thế kỷ XX, XXI, Mỹ - vốn là quốc gia của tầng lớp tinh hoa nước Anh sáng lập nên, tiếp tục là ngọn cờ đầu thay thế cho Anh - Pháp.
Quay lại thế kỷ thứ 8, phương Tây đứng trước sự tồn vong bởi vó ngựa của đoàn quân này. Vương quốc Frank (bao gồm 3 quốc gia là Đức, Italia và Pháp), là quốc gia lớn nhất Tây Âu, cũng là nhà nước Cơ đốc giáo lớn nhất, đã điều 30.000 quân với bộ binh mang giáp nặng tinh nhuệ làm nòng cốt, do Hoàng thân Charles chỉ huy, để ngăn chặn lại cuộc tấn công của 80.000 quân Hồi giáo do tướng Abdul Rahman Al Ghafiqi cầm đầu. Địa điểm được lựa chọn là Tours (tỉnh lỵ nước Pháp). Cuộc chiến ấy tương tự như trận đánh giữa Napoleon và công tước xứ Wellington sau này. Một bên chuyên tấn công bằng kỵ binh, và bên kia phòng ngự bằng sơ đồ hình vuông. Khác là, hoàng thân Charles với lợi thế về địa lợi (đánh trên sân nhà), nên đã cho các cánh quân đi những điểm hiểm để đập phía sau hậu phương quân Hồi Giáo. Sự giằng co kéo dài khiến bất lợi đổ dồn cho Hồi Giáo cho đến khi Abdul Rahman Al Ghafiqi buộc phải rút quân. Trận đánh tại Tours đã chặn đứng sự bành trướng của Hồi giáo ở châu Âu.
Và sau này được sử gia Godefroid Kurth đánh giá là : "Đến nay, trận Tours vẫn được xem là một trong những sự kiện vĩ đại trong lịch sử thế giới, bởi nó quyết định Cơ đốc giáo hay Hồi giáo sẽ thống trị khắp châu Âu".
Tại sao Hồi Giáo được đánh giá cao như thế? Bởi phương Tây đã được khai sáng bởi nền văn minh và khoa học mà đế chế Hồi Giáo dành tặng cho họ ở các cuộc chinh phục. “Con đường tơ lụa” (The Silk Road) đoạn đường nối từ Trung Hoa cho đến Tây Á, tuyến đường thông thương quan trọng của nhân loại trong suốt một thời gian dài lịch sử, tạo ra sự giao thoa giữa văn hóa, kinh tế, tôn giáo Đông – Tây. Mà ở trong đó Trung Hoa, Ấn Độ, La Mã và những quốc gia Hồi Giáo của vùng Tây Á là trung tâm của cuộc chơi. Lượng giác và hình học không gian mà các anh em đang điêu đứng, thì chính các nhà khoa học Hồi giáo phát triển rực rỡ. Thiên văn học mà hôm nay NASA làm ầm ầm, chính bởi những nhà khoa học Ả Rập đặt nền tảng. Y học của thế giới hồi giáo phát triển cũng rực rỡ và biết giải phẫu từ thời xưa, một bức tranh giải phẫu mắt chữ Ả Rập vẫn còn được chụp lại, trước thời Leonardo da Vinci khá xa. Vào thập niên 1950, một nhà khoa học tên là George Sarton, ông là một trong những nhà khoa học phương Tây nổi tiếng thế giới, người đã viết nên báo cáo và tham luận 4000 trang về Lịch sử Khoa học, để biến nó trở thành một dòng riêng kết hợp giữa lịch sử và khoa học. Trong tham luận ấy, ông đã trả lại vị thế của nhà tư tưởng Ả Rập và Ba Tư. Và một đánh giá trung thực nhất:
“Nếu không có các nhà khoa học Hồi Giáo, cũng như không có những thành tựu của họ thì chắc chắn các nhà khoa học sau này đã phải bắt đầu từ con số 0 và nền văn minh của chúng ta có hôm nay, chắc chắn sẽ bị trì hoãn vài thế kỷ”.
Vinh quang tiếp theo của đế chế hồi giáo chính là Ottoman và các cuộc thập tự chinh, mà tôi đã đề cập với các bạn ở phần 1. Trước khi diệt vong xuất hiện, không chỉ đến từ sau thế chiến I, mà âm ỉ từ sau cái chết của nhà tiên tri.

2. ĐẾ CHẾ DIỆT VONG VÀ CHUYỆN IS

2.1 Đế chế diệt vong
Năm 632, Mohammedmất. Bên cạnh sự vĩ đại ông để lại, còn là một sự chia rẽ trong nội bộ về việc tranh chấp quyền thừa kế. 
Abu Bakr được chọn làm người kế vị nhà tiên tri Mohammed như đã nói ở trên. Tuy nhiên, bên cạnh Abu, nhà tiên tri Mohammad còn có một người cháu bên họ nội là Ali ibn Abi Talib. Anh là một người xuất sắc nhất của thế hệ thứ 2. Ali có thừa sự dũng mãnh của 1 chiến binh, trái tim trong sáng của một kẻ anh hùng, nhưng lại thiếu cái nhẫn tâm của 1 người làm chính trị. Anh bị đẩy ra ngoài trong cuộc tranh giành ngôi vị lãnh đạo Ả Rập. Cho tới khi anh được lựa chọn thì đã quá muộn màng cho một quốc gia thống nhất. Ngày Ali lên cầm quyền thì sự đấu đá phe nhánh đã lan rộng ra từ 3 dòng tộc đã nắm quyền trước đó. Trong cuộc đấu của Ali và thống đốc vùng Syria (lại là Syria) là Muawiyah, Ali đã thể hiện sự ngây thơ trước kẻ gian giảo. 100.000 người lính đã thấy Ali thua cuộc, nhìn thấy sự phản bội đức tin ấy của người cầm quyền, và tách ra thành một nhóm riêng gọi là Khawarij (có nghĩa là “Những kẻ bỏ ra đi”). Đây là nhóm hồi giáo sẵn sàng chọc dao vào bụng 1 bào thai chỉ vì người mẹ nói từ “Ủng hộ Ali.” Bạn có quen không? Vâng, đó chính là nhóm tổ chức hồi giáo cực đoan đầu tiên trên thế giới!


Ali chết đi, dòng tộc ông bị thảm sát, những người cháu của nhà tiên tri Mohammed bị bêu đầu trên những ngọn giáo. 1400 năm sau, lịch sử hồi giáo chính là sự đẫm máu, chia rẽ và đánh giết nhau như thế. Cũng bắt đầu ở Ali – bởi vì anh chính là gốc gác của cái gọi là Shia và Sunni mà các bạn được nghe kể hôm nay. Để kể ra sự khác biệt giữa Shia và Sunni thì quá nhiều. Nhưng một trong những cái khác là phía Sunni tin rằng Mohammed không chỉ định một người kế nhiệm. Còn Shia tin rằng trong lần hành hương cuối cùng của Mohammed đến Mecca, ông đã chỉ định Ali làm người kế vị. Sunni – Shia đánh nhau chí chóe đến hôm nay chính vì tổ tiên của họ cũng đánh nhau. Nhắc lại câu châm ngôn của tôi trong loạt bài này: hãy đi tìm lịch sử, bởi chỉ có lịch sử mới giải thích cho bạn căn nguyên của vấn đề. Nội chiến Syria diễn ra ta đang thấy, sâu xa cũng vì mâu thuẫn trong lòng Hồi giáo mà ai cũng nhận mình là phát ngôn chính xác nhất lời Thương đế. Tổng thống Syria ông Assad là người Hồi giáo dòng Alawite (nhánh nhỏ của Shia), ông bảo trợ cho nhánh Shia và những sắc dân thiểu số ở Syria nên không được lòng người Sunni - dòng Hồi giáo chiếm số đông ở Syria. Và đó chính là quân nổi dậy.
Vấn đề của "Mùa xuân Ả Rập" cũng ở đó. Người ta nổi dậy ngoài sự bất mãn với chế độ, còn vì chế độ ấy đi theo nhánh Hồi Giáo khác nhánh Hồi Giáo mà họ theo.
Bản thân những người Hồi giáo rất tốt. Đấy là những người có quan niệm tiếp khách như dân miền Tây ở Việt Nam, dù nhà có nghèo cỡ nào, thì cũng mổ thịt con gà cuối cùng cho khách. Tuy vậy, khác với sự sảng khoái của người Việt Nam trong vấn đề tôn giáo, thì những người hồi giáo không chứa chấp nhau dù họ cùng đọc Kinh Koran, cùng yêu kính Mohammed. Sâu xa, KINH KORAN được coi là quyển kinh gốc mà thượng đế ban cho, là quyển kinh “Nguyên sơ nhất”, “Trọn vẹn nhất” và lời thượng đế nhắn nhủ đã được hiểu rằng “Những Tân ước và Cựu ước đã bị bóp méo. Lần này thượng đế sẽ nói lần cuối lời dạy dỗ, được viết bằng tiếng Ả Rập, Mohammed sẽ là người cuối cùng.” Bởi vậy những nhánh giáo lý được sinh ra ai cũng tự nhận mình là ưu việt nhất, họ tàn phá những di tích lịch sử.
Tại sao Anh và Pháp có thể phân rã được đế chế Ottoman để khiến tất cả đế chế này tan hoang đến như thế?
Bởi lẽ Anh và Pháp đã biết rằng, vấn đề của đế chế Hồi giáo không phải là quốc gia, mà là BỘ LẠC. Những bộ lạc này có những giáo lý riêng, nên các quốc gia phương tây đã hứa hẹn, chia đất, và dùng phương pháp “chia để trị”, đồng thời lại ném cả Shia và Sunni với những giáo nhỏ khác vào nhau trong lòng một quốc gia. Những Syria, Ai Cập, loạn là vì thế. Mâu thuẫn của các nhánh nhỏ trong lòng 1 tôn giáo lớn, của các bộ lạc, trong lòng 1 quốc gia cứ thế bung bét như ta thấy hiện tại. Hồi Giáo đã chính thức thua Kito giáo.
Một kết luận: Đoàn kết tạo nên Hồi giáo đứng đầu thế giới. Chia rẽ biến Hồi giáo trở thành bộ mặt cực đoan của hôm nay.
2.2 IS
Vâng, bức tranh cuối cùng của các bạn ở đây, IS là ai?
Đã bao giờ các bạn thắc mắc vì sao những gì các bạn đọc về IS thấy nó man rợ vậy mà nhiều người theo nó không? Cũng như các bạn thắc mắc vì sao bây giờ bạn không được nghe nói về IS nữa? Vì Nga tiêu diệt hết rồi ư?
Khi các bạn ngủ dậy, các bạn mở báo, đọc tin, cái các bạn đang đọc là của ai? Đấy chính là các kênh truyền thông của Phương Tây. Những kênh truyền thông lớn nhất của thế giới đều thuộc về phương Tây, đó là CNN, là BBC, là Times, là AP, là Reuters. Có nghĩa, bạn đâu có đọc được về hồi giáo từ trong lòng của nó, khi lúc này thống trị thế giới đâu phải là hồi giáo. Người Mỹ đã rút kinh nghiệm rất lớn về cuộc chiến tranh Việt Nam khi truyền thông đóng góp vai trò quan trọng trong cuộc chiến này (Để hiểu thêm điều này, các bạn vào facebook cá nhân của tôi đọc thêm về bài VUA QUANG TRUNG, TBT LÊ DUẨN, VÀ MẬU THÂN 1968. Đường link:https://mrnvdinh92.blogspot.com/2018/04/vua-quang-trung-tbt-le-duan-va-mau-than.html ). Chiến tranh Việt Nam đã có một vai trò quan trọng trong việc định hình thế giới hôm nay. Khi Internet và mạng xã hội phát triển, thì sự lợi hại của truyền thông trong công nghệ mới là điều cần phải đề cập. 


Phương Tây đã cho IS đi ra, vẽ nên IS ghê sợ, và Nga đã khôn khéo lợi dụng chính IS xấu xí để giương cao ngọn cờ chính nghĩa (chuyện, Mỹ cũng cần vũ khí hóa học để bắ Syria mà), Nga vào Syria, lấy cớ tấn công IS và bảo vệ luôn chính quyền Damacus. Phương Tây bị việt vị, và để IS chìm vào quên lãng. Sáng ngủ dậy, ta không còn thấy IS tràn ngập phương tiện truyền thông nữa.

//
Bây giờ tôi sẽ cho các bạn biết về một khuôn mặt khác của IS: Vì sao IS vẫn được ủng hộ? Chính bởi Lý tưởng của IS là điều mà người theo đạo Hồi mơ ước. Cái tên IS nghĩa là gì Islamic State – Nhà nước Hồi giáo. Mục tiêu tối hậu của IS là thiết lập một nhà nước Hồi giáo thống nhất toàn Trung Đông, áp dụng luật Hồi giáo Sharia. Họ giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa Hồi Giáo. Tạo ra một vương quốc của riêng người Hồi Giáo, và sẵn sàng tạo nên một đế quốc rộng lớn chỉ riêng cho Hồi giáo, tiêu diệt các “dị giáo” khác, gợi về những vinh quang thịnh vượng của ngàn năm về trước, về một nền văn minh từng đứng đầu thế giới như Ottoman hay thời đại của Mohammand. Đấy là tham vọng vĩ đại của IS, là giấc mơ thầm kín của những người theo Đạo Hồi luôn nhớ về đế chế đã mất.
Khi đã có một tính chính thống, một lý tưởng, cùng với nguồn tiền dồi dào, họ có người theo về (đấy là lý do các bạn gặp những bài báo có các cô gái, chàng trai người Anh, người Đức bỏ cả gia đình văn minh để gia nhập IS). Từ nhân lực và vật lực, họ xây dựng nên những địa phương dưới trướng của họ. Địa phương ấy dành những gì tốt đẹp cho một hệ giáo phái họ tôn thờ, và tiêu diệt những hệ phái khác.
IS chỉ lớn lên từ trong “Mùa xuân Ả Rập” và “nội chiến Syria”., chứ thực sự, IS vốn được sinh ra sau sự sụp đổ của Tổng thống Saddam Hussein vào năm 2003. Các bạn đọc báo chắc không lạ gì cái cảnh IS chặt đầu con tin phương tây và hành quyết những người theo hệ hồi giáo Shia. Cùng là hồi giáo, tại sao lại giết nhau, vì IS là của dòng Hồi giáo Sunni, mà Sunni và Shia lại có mối “thâm hải huyết thù” (như đã nói ở mục 2.1).
Vào năm 2003 khi Hussein – người thủ lĩnh của hệ phái Sunni bị lật đổ, quyền lực của hệ phái này dồn cả vào tay hệ phái Shia, hệ phái này lại đàn áp chính hệ Sunni. Những người thuộc dòng Sunni còn lại trở thành đứa con rơi của chế độ. Hệ phái này lặng lẽ tập hợp với nhau, tiến hành khủng bố khắp nơi ở Iraq. Các bạn còn nhớ cái tên al-Zaqawi không? Đã có thời, cái tên này bị truy lùng chỉ sau Bin La Den. Bạn al-Zaqawi là thủ lĩnh đầu tiên của tiền thân IS, sau này al-Zaqawi bị tiêu diệt (tôi nhớ là bằng 2 con F16 của Mỹ). Tuy nhiên, dòng hồi giáo Sunni thì không mất, họ cơ cấu, kết hợp các nhóm du kích chống Mỹ lẻ tẻ. Cơ hội đến, cuộc nội chiến Syria nổ ra. “Trai cò cắn nhau, ngư ông đắc lợi”, khi quân nổi dậy và quân chính phủ đang đánh nhau chí chóe, khi Nga và Mỹ đang gườm nhau. Anh IS anh nổi lên, anh đánh một lèo nguyên biên giới Syria và Iraq, sở hữu cả một vùng đất rộng lớn và khủng bố cả thiên hạ. Điều mà nếu hòa bình thì anh ta sẽ không làm được.
Ngày 29/6/2014, ISI có một tân vương Hồi giáo, Abu Bakr al-Baghdadi, người sẽ đổi tên lãnh thổ của mình thành IS (Islamic State, Nhà nước Hồi giáo), tuyên bố đặt thủ đô ở Ar-Raqqah, Syria. IS ra đời, cái tên giờ trở thành sự sợ hãi cho cả thế giới vì những sự chặt đầu, nhưng nếu nói là Islamic State thì người ta sẽ biết tôn trọng hơn.
Tôi không có thông tin về kẻ đứng sau IS, kẻ đã tham mưu và bày chiến lược cho IS. Nhưng tôi đây phải là kẻ rất giỏi, rất thông minh, rất kiệt xuất một cách tàn ác. Khác với sự kiệt xuất của những người lãnh đạo Qatar, Ả Rập Saudi hay UAE. Đó là dùng dầu mỏ, nương theo Mỹ để vẫn giữ tôn giáo mà vẫn giàu màu. Cái khác của Trung Đông liên quan đến sự phân hóa và cả tham vọng. Tuy nhiên người tài Hồi giáo không thiếu. Người tạo nên IS không chỉ giỏi về quân sự khi bày chiến lược để giúp IS nắm một dải đất rộng lớn khi nội chiến Syria xảy ra, mà tạo nên một hệ thống tuyên truyền rộng rãi ở trên mạng xã hội, đồng thời còn làm kinh tế rất hay. Hầu như ngay cả chính phủ Syria, quân nổi dậy, Thổ Nhĩ Kỳ và có tin là cả Nga cũng làm ăn buôn bán dầu mỏ với vương quốc này. 2 triệu đô la huy động một ngày là những gì có về kinh tế của IS. Vượt trên sự tưởng tượng của các bạn về một quốc gia man rợ. IS còn có tòa án, cảnh sát, trường học và các tổ chức từ thiện. Ở các vùng tạm chiếm, IS còn làm được chính phủ đương thời. IS đã xây dựng chợ, đường, trường, trạm, bến xe… Khi Nga đưa quân vào Syria, bên cạnh việc bảo vệ chính quyền Damacus, thì còn không kích IS, và IS đã bị thất bại trên quy mô lớn. Lúc này, các chiến binh IS trở lại chiến thuật chiến tranh du kích, với các cuộc tấn công chết chóc gần như mỗi ngày vào lực lượng liên quân tại Iraq. Đấy là một cuộc chiến chưa tìm thấy hồi kết. Bởi vì: anh có thể giết họ, tiêu diệt đất nước họ nhưng không bao giờ tiêu diệt được niềm tin. Niềm tin hồi giáo ấy đã tồn tại được cả nghìn năm qua rồi.
Hôm nay nói về IS, bởi chưa chắc ngày mai IS không tìm về. Sự lớn mạnh của tôn giáo nào, sẽ đi cùng với sự xâm chiếm tôn giáo còn lại. Thế kỷ thứ 20, 21 văn minh phương Tây đã thắng thế. Chuyện “Mùa xuân Ả Rập” trở thành “Mùa đông chết chóc” hoặc “Mùa xuân hồi giáo cực đoan” như hôm nay ta thấy với các cuộc biểu tình, bạo loạn ở Ai Cập, cùng hình ảnh điêu tàn của Syria, chính bởi người phương tây đã áp đặt suy nghĩ của họ vào trong tôn giáo Hồi Giáo, áp đặt văn hóa của họ vào trong lịch sử văn hóa người Hồi. Kết quả như hôm nay, đã chứng minh sự khác biệt về ý thức hệ có tính kế thừa hàng thế kỷ sẽ không phải được giải quyết chỉ bằng 2, 3 cuộc biểu tình.
Lời kết:
Hãy nhớ: Chúa không dạy chúng ta làm điều xấu. Nguyên thủy đẹp nhất của Hồi Giáo, Ki tô giáo hay Phật giáo đều mang cái đẹp như nhau, mang trí tuệ, và những phẩm chất lớn lao của một con người hướng đến chân, thiện mỹ.
Trên đời này không có gì xấu hoàn toàn, không có gì tốt hoàn toàn. Và Hồi Giáo không hề quá xấu như những gì bạn thấy ở trên truyền thông.
Tôi hy vọng rằng sau 3 loạt bài vừa qua, các bạn đã có được một bức tranh toàn vẹn về Trung Đông, Syria, và Hồi Giáo.
Hẹn các bạn ở những bài viết của tương lai !

Share:

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

BẢN CHẤT CỦA CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ (FED) VÀ ĐỒNG USD


Không dưới một lần tôi nghe câu nói kiểu thế này (kể cả từ các giảng viên kinh tế): Việt Nam có Quân đội nhân dân, tòa án nhân dân, công an nhân dân,... tóm lại cái gì cũng "nhân dân" nhưng sao ngân hàng lại là "Ngân hàng nhà nước" (NHNN)? Sao không làm ngân hàng Trung ương (NHTW) như các nước khác?

Tôi vốn rất "gà mờ" về khoản tài chính, nên ban đầu cũng nghĩ chắc là do cách đặt tên khác nhau thôi chứ bản chất thì cũng vậy. Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu thì lờ mờ nhận ra sự khác nhau giữa chúng, đó là sự độc lập hay phụ thuộc của NHTW / NHNN đối với chính phủ (nhà nước). Thời gian gần đây, khi một loạt các ông trùm ngành tài chính tại Việt Nam bị rờ gáy, cái âm mưu thôn tính hệ thống tài chính Việt Nam của một số tài phiệt Việt bắt đầu hé lộ, thì tôi phần nào hiểu ra những "ẩn ý" đằng sau những kiến nghị của các vị trí thức nước nhà về việc chuyển đổi mô hình NHNN sang NHTW.
Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, Đôi Mắt giới thiệu với các bạn chân dung thực sự của Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), một ngân hàng trung ương "ẩn danh" nổi tiếng toàn cầu, được đánh giá rằng có cấp độ độc lập tự chủ cao nhất (Độc lập tự chủ trong thiết lập mục tiêu hoạt động) qua các bài viết của tác giả Ngọc Mai, đăng trên báo An ninh thế giới.





Một trong những thể chế tài chính luôn bí ẩn và là câu hỏi lớn chính là Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED). Tổng thống Woodrow Wilson, người ký dự luật Cục Dự trữ Liên bang Mỹ từng cay đắng thừa nhận: "Tôi là người bất hạnh nhất. Tôi đã vô ý hủy hoại đất nước mình. Quốc gia công nghiệp vĩ đại này bị khống chế bởi chính hệ thống tín dụng của nó... Vì thế sự phát triển của cả quốc gia và mọi hoạt động kinh tế của chúng ta đều nằm trong tay của một số ít người"...


Nguyên nhân vì sao Tổng thống Wilson trước khi qua đời lại day dứt đến như vậy? Phải chăng vẫn còn những bí ẩn đằng sau Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Federal Reserve System-FED) mà chúng ta chưa hiểu hết?



Vào đêm ngày 22/11/1910, một nhóm phóng viên đứng tại góc sân ga ở Hoboken, New Jersey rất chán chường. Họ đứng đó chờ đợi, chứng kiến một đoàn những chính khách và những ông trùm tài chính quốc gia rời sân ga một cách bí mật. Phải đến nhiều năm sau, đám phóng viên mới phát hiện ra thực chất nhiệm vụ bí mật trong đêm đó của nhóm người kia là gì, nhưng cả khi biết được, họ cũng không thể hiểu được lịch sử Mỹ đã có bước chuyển mạnh mẽ từ sau đêm ấy tại Hoboken.



Nhóm người đó rời đi bằng xe lửa, trong đêm tối mịt mùng, và không có đích đến rõ ràng. Dẫn đầu đoàn là thượng nghị sĩ Nelson Aldrich Chủ tịch Ủy ban Tiền tệ quốc gia, ông ngoại của Nelson Rockefeller cùng với 6 thành viên khác. Đó là A. Piatt Andrew, trợ lý Bộ trưởng Tài chính Mỹ; Frank Vanderlip, Chủ tịch National City Bank; Henry P. Davison, cổ đông cao cấp của Công ty J.P Morgan; Charles D. Norton, Chủ tịch First National Bank; Benjamin Strong, trợ lý của J.P Morgan và Paul Warburg, một ông trùm về ngân hàng gốc Do Thái đến từ Đức.



7 nhân vật sừng sỏ này được yêu cầu là phải thực hiện chuyến đi một cách thật bí mật, hiển nhiên việc "gặp gỡ nhau tại sân ga" phải hết sức tình cờ. Cụ thể là họ được yêu cầu đến sân ga cùng một thời điểm, không gặp gỡ nhau trước cái đêm ấy, và phải giả như không biết nhau. Chỉ thị đưa ra là bằng mọi giá phải tránh được tai mắt phóng viên, bởi họ là những người nổi tiếng, dĩ nhiên những người nổi tiếng khi gặp phải phóng viên thì sẽ bị ngập trong rất nhiều câu hỏi và sự đeo bám. Khá hài hước là trường hợp của Paul Warburg, một cao thủ về lĩnh vực ngân hàng, là một trong số những người đàn ông phải mang súng săn theo người ngày hôm ấy giả vờ như mình đi săn mặc dù ông ta chưa một lần sờ vào súng và khẩu súng mang theo mình chỉ là đồ đi mượn. Tất cả mục đích chỉ là để che mắt thiên hạ và báo giới.



Những thông tin trên đã đủ để tạo nên một câu chuyện mang màu sắc kỳ bí. Chiếc xe riêng của Aldrich đã đợi sẵn ngoài sân ga Brunswick, Georgia và đưa cả đoàn người đi trong bóng tối mịt mùng của Hoboken đến với đảo Jekyll. Vài năm trước đó, một hội gồm toàn những triệu phú dẫn đầu là JP Morgan đã trả tiền mà mua đứt hòn đảo này ở bang Georgia để làm nơi nghỉ đông. Họ đặt tên là "Hội Săn bắn đảo Jekyll". Đảo Jekyll lúc này được chọn là nơi để phác họa nên kế hoạch kiểm soát tiền tệ và tín dụng của người dân Mỹ, không phải chỉ bởi sự hoàn toàn cô lập của nó, mà còn là vì nó là quyền lợi cá nhân của những người tham gia phác thảo kế hoạch đó.

Hội đồng Dự trữ Liên bang được thành lập 10/8/1914. Đứng ngoài cùng bên trái là Paul M. Warburg - người chịu trách nhiệm chính phác thảo kế hoạch trên đảo Jekyll.



Trước khi 7 nhân vật trong đoàn của Aldrich rời khỏi New York, các thành viên "Hội Săn bắn đảo Jekyll" được thông báo rằng câu lạc bộ sẽ được sử dụng trong vòng hai tuần kế tiếp. Lập tức họ được tạm lui. Mọi sự phục vụ vẫn được chu đáo như thường lệ trong thời hạn hai tuần nhưng đều là những "bề tôi" trung thành được đưa vào từ đất liền. Những người phục vụ này không biết tên của ai trong số những người có mặt ở Jekyll đêm đó, kể cả nếu họ có bị chất vấn sau khi nhóm người rời đi thì họ cũng không thể đưa ra bất kỳ cái tên nào. Để đảm bảo được sự bảo mật, ngay từ trước khi đặt chân lên đảo, các thành viên đã được chỉ thị không được dùng tên thật của mình trong suốt thời gian ở đây. Sau này khi nhắc lại sự kiện, bản thân những ông trùm này còn hài hước tự gọi nhóm mình dưới cái tên "hội - tên -họ", tức là chỉ dùng họ của mình mà thôi, như là Warburg, Strong, Vanderlip... Lý do cho sự bảo mật tối cao này là vì tính chất cuộc họp vô cùng quan trọng đã được ra lệnh bởi Ủy ban Tiền tệ quốc gia.



Trên thực tế, không có một "việc tốt" nào được thực hiện trên đảo Jekyll. Nơi đây dường như chỉ là nơi để họp bàn những âm mưu và bí mật. Hội của Aldrich lần này bí mật lên đảo để dự thảo pháp chế về ngân hàng và tiền tệ, việc mà Ủy ban Tiền tệ quốc gia được giao nhiệm vụ từ chính phủ để chuẩn bị. Mối đe dọa lúc đó là sự thao túng của tiền và tín dụng Mỹ. Cuộc họp tại đảo Jekyll đảm bảo rằng cái gọi là "ngân hàng trung ương" sẽ được ra đời tại Mỹ, và nó sẽ đáp ứng cho những giám đốc ngân hàng, điều mà họ từng mong ước.



Trong suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nền kinh tế Mỹ chịu nhiều đe dọa từ những yếu kém của hệ thống tài chính, dẫn đến những thất bại trong hệ thống ngân hàng và hàng loạt doanh nghiệp phải phá sản. Thời điểm tháng 10-1907, khoảng một nửa các khoản tiền gửi ngân hàng ở New York đều bị các công ty đầu tư ủy thác gán nợ với lãi suất cao để đầu tư vào thị trường cổ phiếu và trái phiếu có độ rủi ro cao, thị trường tài chính rơi vào trạng thái đầu cơ tột độ. Điểm nút là khi có tin đồn Công ty Kinkerbocker Trust - công ty ủy thác lớn thứ ba nước Mỹ có nguy cơ phá sản thì khủng hoảng niềm tin lan rộng và cuộc chạy đua rút tiền gửi, bán tháo cổ phiếu xảy ra. Cuộc khủng hoảng nghiêm trọng 1907 đã thôi thúc Quốc hội Mỹ phải thành lập ngay một Ủy ban Tiền tệ quốc gia, đồng thời đã đưa ra những đề nghị thiết lập một thể chế có thể giúp ngăn ngừa và chống đỡ được những rủi ro trong lĩnh vực tài chính.

Câu lạc bộ của "Hội săn bắn đảo Jekyll" và thượng nghị sĩ Nelson Aldrich, người chủ trì cuộc họp bí mật trên đảo (ảnh nhỏ).



Bởi vậy, nhóm họp kín ở đảo trong vòng 9 ngày đầy căng thẳng và dữ dội để có thể hoàn thành phương án. Thượng nghị sĩ Aldrich, luôn luôn là người độc đoán và luôn tự cho ông ta là người dẫn đầu nhóm. Trong khi đó, khác với ông ta, Paul Warburg vốn là người rất sành sỏi trong lĩnh vực ngân hàng thì luôn giảng giải rất nhiều và chi tiết cho từng câu hỏi mà mọi người đặt ra. Henry P.Davison, nhà ngoại giao bẩm sinh như là một chất xúc tác duy trì công việc của mọi người.



Được coi là người uyên thâm nhất trong hội, Paul Warburg là người chịu trách nhiệm chính trong việc phác thảo kế hoạch. Sản phẩm của ông ta rồi sẽ được đem ra thảo luận và thông qua bởi tất cả các thành viên khác của nhóm. Thượng nghĩ sĩ Aldrich có vai trò cân nhắc sao cho kế hoạch thật hoàn hảo và kiểm tra xem kế hoạch đó có thể được Quốc hội thông qua hay không. Trong khi các thống đốc ngân hàng khác có vai trò bổ sung thêm bất kỳ chi tiết nào họ cho là cần thiết để chắc chắn rằng, họ đạt được tất cả những gì họ muốn. Mọi thứ phải được xem xét cẩn thận trước khi bản kế hoạch được hoàn thành bởi sẽ không có cơ hội thứ hai, tuyệt mật như thế, để họ có thể thực hiện lần tiếp theo.



Do cuộc khủng hoảng ngân hàng năm 1907 nên trong mắt người dân Mỹ, hình ảnh của các ngân hàng không còn mấy đẹp đẽ. Điều này khiến cho đa số nghị sĩ Quốc hội không dám công khai ủng hộ dự luật do các ngân hàng tham gia lập ra. Từ thời Tổng thống Jefferson đến nay, tên gọi của Ngân hàng Trung ương đều có dính dáng đến âm mưu của nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế Anh, vì thế Paul kiến nghị dùng tên "Cục Dự trữ liên bang" (Federal Reserve System) để che đậy tai mắt thiên hạ. Thế nhưng, Cục Dự trữ liên bang có đầy đủ mọi chức năng của một ngân hàng trung ương, và cũng giống như Ngân hàng Anh, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ được thiết kế theo kiểu tư nhân nắm giữ cổ phần, và ngân hàng sẽ thu được lợi ích rất lớn từ việc đó.



Nhằm che đậy bản chất thực của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ cũng như để trả lời cho câu hỏi ai là kẻ khống chế cơ quan này, Paul đã khéo léo đề xuất ý kiến: "Quốc hội khống chế Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Chính phủ nắm giữ vai trò đại biểu trong hội đồng quản trị, nhưng đa số thành viên của Hội đồng quản trị là do Hiệp hội Ngân hàng trực tiếp hoặc gián tiếp khống chế". Về sau trong phiên bản cuối cùng, Paul đã đổi thành "thành viên của hội đồng quản trị do tổng thống Mỹ bổ nhiệm", thế nhưng chức năng chính xác của hội đồng quản trị sẽ do Hội đồng Tư vấn liên bang khống chế, và cùng với Hội đồng quản trị, Hội đồng Tư vấn liên bang sẽ định kỳ mở hội nghị "thảo luận" công việc. FED sẽ gồm có 12 "FED con" nằm ở các tiểu bang, bản chất mỗi "FED con" là ngân hàng thương mại tư nhân ở địa phương. Thành viên của Ủy ban Tư vấn liên bang sẽ do chủ tịch hội đồng quản trị của 12 nhà ngân hàng dự trữ liên bang quyết định. Điều này thực sự đã lấp liếm che đậy sự thật bên trong và che mắt được công chúng.



Một điều cần cân nhắc nữa là làm thế nào tìm ra nhân viên quản lý cho 12 ngân hàng địa phương trực thuộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Kinh nghiệm làm việc trong Quốc hội của Nelson Aldrich cuối cùng đã giúp ông tìm được giải pháp. Các nghị sĩ miền Trung Tây nước Mỹ thường tỏ rõ mối thù địch với Ngân hàng New York, để tránh mất kiểm soát thì tổng thống phải là người đứng ra bổ nhiệm vị trí chủ tịch ngân hàng địa phương và đó không phải là nhiệm vụ của Quốc hội. Nhưng điều này đã tạo nên một lỗ hổng pháp luật.




Điều 8 chương 1 của hiến pháp Mỹ quy định rõ rằng, Quốc hội chịu trách nhiệm phụ trách việc quản lý phát hành tiền tệ. Việc Cục Dự trữ Liên bang gạt Quốc hội ra ngoài rõ ràng đã vi hiến. Về sau, quả nhiên điểm này đã trở thành cái cớ để các nghị sĩ chĩa mũi dùi công kích Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Với sự dàn xếp chu đáo, dự luật này sau đó được xuất hiện với hình thức mô phỏng theo sự phân quyền và cân bằng kiểm soát của Hiến pháp Mỹ. Tổng thống bổ nhiệm, Quốc hội thẩm duyệt, nhân sĩ độc lập nhậm chức chủ tịch Hội đồng quản trị, còn các nhà ngân hàng đảm nhận vị trí cố vấn. Quả là một thiết kế hoàn hảo!


Với bản "dự luật" được hình thành trên đảo Jekyll, 7 nhân vật quan trọng của phố Wall tại thời điểm ấy đã bắt đầu chính thức nắm quyền khống chế đại bộ phận các ngành công nghiệp cơ bản cũng như nguồn vốn của Mỹ. Đầu mối trung tâm về vốn do họ tạo nên đang trở thành thế lực chủ yếu khống chế toàn bộ nước Mỹ và có ảnh hưởng to lớn đến cả thế giới sau này. Chính họ mới là những người thực sự điều khiển việc lập ra Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Sự phối hợp nhịp nhàng, bí mật giữa những người này với dòng họ Rothschild của châu Âu cuối cùng đã lập nên một phiên bản của Ngân hàng Anh quốc tại Mỹ.




Và ngày 23/12/1913, Chính phủ dân cử của Mỹ cuối cùng đã bị quyền lực đồng tiền "lật đổ". Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson đã ký thông qua hiệp ước thành lập "Federal Reserve Act", và như thế, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chính thức ra đời .






Những đồng đôla "vay mượn"



Rất nhiều người trên thế giới cho tới giờ vẫn nghĩ rằng quyền phát hành đồng đô-la tất nhiên thuộc về Chính phủ Mỹ, tuy nhiên trên thực tế về bản chất, Chính phủ Mỹ không có quyền phát hành tiền tệ! Các nhà phân tích cho rằng, kể từ năm 1963 sau khi Tổng thống Kennedy bị ám sát, Chính phủ Mỹ cuối cùng đã mất đi quyền phát hành "đôla Mỹ bạc trắng". Quyền lực ấy đã thuộc về Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ và cách thức mà họ đã tạo ra tiền tệ là từ... không khí, chính xác hơn là dựa trên nợ.(*)



Sâu xa hơn, chính đạo luật "Federal Reserve Act" hay người ta còn gọi là "Đạo luật Nelson Aldrich" mà Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson ký ngay trước ngày Thiên Chúa giáng sinh năm 1913 đã tước bỏ hoàn toàn chức năng in tiền giấy của Chính phủ Mỹ. Và sự thật là kể từ khi FED đoạt được quyền in tờ giấy bạc này, cứ bao nhiêu tờ tiền đôla xanh in ra là người dân Mỹ phải chịu nợ FED bấy nhiêu.



Trên thế giới người ta biết đến rất nhiều loại tiền nhưng về bản chất thì được xem là chỉ có hai loại: tiền vay mượn và tiền phi vay mượn. Tiền vay mượn là tiền pháp định đang lưu thông hiện nay mà thành phần chủ yếu của hệ thống tiền tệ pháp định này là các khoản vay mượn tiền tệ hóa của chính phủ. Ngược lại tiền phi vay mượn là có vàng, bạc đảm bảo.



Trong lịch sử Hoa Kỳ đã từng có những đồng tiền "không vay mượn", thực sự được phát hành bởi chính phủ. Quan trọng nhất và là loại tiền tệ hợp pháp đầu tiên được Chính phủ Mỹ phát hành dưới thời Tổng thống Abraham Lincoln trong cuộc nội chiến giữa thế kỷ XIX chính là "Tiền xanh Lincoln" và "Chứng chỉ bạc trắng" (Silver Cerfiticate). Người ta còn gọi "Tiền xanh Lincoln" là "Giấy bạc Nhà nước Hoa Kỳ". Nhưng kể từ sau khi Tổng thống Lincoln bị ám sát thì việc phát hành loại tiền này đã bị hạn chế, tổng lượng tiền phát hành bị hạn định trong khoảng 346.681.016 đôla, thậm chí năm 1960 lượng đôla phát hành chỉ vỏn vẹn 1% tổng lượng tiền lưu thông của Mỹ.



Ngày 22/11/1963 khi Tổng thống Kennedy - vị tổng thống Hoa Kỳ nỗ lực đòi quyền nắm giữ đồng đôla bị ám sát, tiếp theo Tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ (1963-1969) là Lindon Johnson lên cầm quyền thì "Chứng chỉ bạc trắng" đã dần bị loại khỏi lưu thông. Thực ra trên thị trường Mỹ lúc bấy giờ vẫn tồn tại "Chứng chỉ vàng" giống với "Chứng chỉ bạc", nhưng bản chất sâu xa của "Chứng chỉ vàng" chính là nguồn gốc thống trị của những nhà tài phiệt ngân hàng khét tiếng trên thế giới. Cho tới năm 1971, mối liên hệ cuối cùng giữa vàng và đồng đôla rốt cuộc đã hoàn toàn bị cắt đứt. Kể từ đây nước Mỹ chỉ còn đồng đôla do FED phát hành mà thôi.



Để có thể hiểu rõ hơn, chúng ta ngược lại thời kỳ trước năm 1971 để tìm hiểu về "bản vị vàng". Ta biết rằng, tiền tệ là thước đo căn bản nhất của nền kinh tế, mọi thứ đều có thể đo lường bằng tiền tệ và tiền tệ cũng là phương tiện tích lũy giá trị của người dân. "Bản vị vàng" được hiểu là chế độ tiền tệ mà phương tiện tính toán kinh tế tiêu chuẩn được ấn định bằng hàm lượng vàng. Dưới chế độ bản vị vàng, tổ chức phát hành tiền mặt (ở dạng giấy bạc hay tiền xu) cam kết sẵn sàng nhận lại tiền mặt và trả vàng nếu được yêu cầu. Các chính phủ sử dụng thước đo giá trị cố định này nếu chấp nhận thanh toán cả tiền mặt của chính phủ nước khác bằng vàng sẽ có liên hệ tiền tệ ấn định (lượng tiền mặt lưu hành, tỉ giá quy đổi...). Những người ủng hộ chế độ bản vị vàng cho rằng, hệ thống này đề kháng được sự bành trướng tín dụng và nợ nần. Đồng tiền được bảo đảm bằng vàng sẽ không cho phép chính phủ tùy tiện in tiền giấy, điều này ngược lại với chế độ bản vị tiền giấy.


Kể từ khi hệ thống tiền tệ nước Mỹ tách ra khỏi sự ràng buộc của vàng thì cho tới nay đồng đôla Mỹ đã giảm giá tới khoảng 94%. Đồng đôla Mỹ giờ đây không còn là đồng tiền dự trữ hữu hiệu và an toàn nữa vì nền kinh tế Mỹ đang suy yếu, tổng nợ nước Mỹ đã tăng quá cao. Sự khác nhau căn bản giữa "bản vị vàng" và "bản vị đôla", đó là không có sự đảm bảo đổi lại với đồng tiền nội địa. Mức cung tiền nội địa của Anh, Pháp hay bất kỳ một quốc gia khác không cần có mối liên hệ với đồng đôla Mỹ.


Mặt khác, vì Mỹ có thể "in" tiền đôla để chi trả nợ và một khi các quốc gia khác đã có một lượng dự trữ đôla ổn định thì nền kinh tế thế giới sẽ tràn ngập đôla, tất yếu lạm phát sẽ xảy ra. Dưới chế độ bản vị vàng, lượng cung ứng tiền sẽ chỉ tăng cùng với lượng vàng khai thác được nên cả nền kinh tế thế giới sẽ ít chịu lạm phát.



Vậy quá trình "sản suất" đồng đôla của FED ra sao? Quả thật, công đoạn biến hóa từ công trái thành đôla là một quá trình tuy không hẳn phức tạp nhưng bản chất hết sức tinh vi, ngoài những người có chuyên môn thì những ai muốn hiểu rõ được cần phải có kiến thức sâu rộng về lĩnh vực tiền tệ tài chính. Có thể tóm tắt chu trình như sau: Muốn có được đồng đôla, Chính phủ Mỹ cần phải đem công trái của người dân Mỹ thế chấp cho FED, lúc này "phiếu dự trữ liên bang" (Federal Reserve Note) do FED phát hành chính là đồng đôla Mỹ.



Theo như Ngân hàng New York của FED miêu tả thì "đồng đôla không thể hoàn đổi thành vàng hay bất cứ tài sản nào khác của Bộ Tài chính Mỹ. Nó không mang ý nghĩa thực tế mà chỉ có tác dụng ghi nợ... Ngân hàng chỉ tạo ra tiền tệ khi được người đi vay cam kết hoàn trả các khoản vay của ngân hàng. Ngân hàng thông qua "tiền tệ hóa" các khoản nợ thương mại và tư nhân để tạo ra tiền tệ".



Còn theo sự giải thích của Ngân hàng Chicago thuộc FED thì: "Ở Mỹ, bất luận tiền giấy hay là tài khoản ngân hàng đều không có đủ giá trị nội tại như một loại hàng hóa nào. Đồng đôla Mỹ chẳng qua chỉ là một tờ giấy. Còn tài khoản ngân hàng cũng chỉ là những con số ước lượng ghi trên giấy"!



Cuối cùng ta có thể hiểu rằng, đồng đôla không có giá trị thực. Nó chỉ là một ví dụ kinh điển của đồng tiền pháp định với số lượng không giới hạn và có thể được in ấn vô tội vạ bởi FED mà thôi.




Trò ảo thuật của FED



Rõ ràng là việc đem thế chấp công trái để lấy đôla sẽ làm cho chính phủ phải chi trả cho FED một khoản lợi tức từ số công trái đó. Vì thế khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu về tiền tệ tăng cao thì Chính phủ Mỹ tất yếu phải thế chấp càng nhiều công trái cho FED và số tiền lãi sẽ ngày càng phình to không giới hạn. Việc thanh toán đầy đủ các khoản nợ lãi suất cho FED được đảm bảo bằng số tiền đóng thuế của người dân Mỹ trong tương lai, thực tế số tiền thuế này vẫn chưa được người dân Mỹ kiếm ra để nộp cho chính phủ.




Như vậy, bản chất ở đây là khi nhu cầu tiền tệ tăng lên thì số tiền nợ của chính phủ cũng tăng, cho đến khi áp lực lãi suất của món nợ ấy vượt quá sự phát triển của nền kinh tế sẽ dẫn đến sự sụp đổ của đồng đôla Mỹ!


Một lỗ hổng chết người trong luật pháp ban hành ở nước Mỹ là chính phủ chỉ phát hành tiền đồng kim loại, còn tiền giấy thì chỉ là tờ chứng nhận trao đổi. Những bộ óc khổng lồ với tư duy minh triết, uyên thâm tại cuộc họp bí mật trên đảo Jekyll chấp bút đã làm ra một dự thảo chết người mang hơi hướng một phiên bản của hai gia tộc khét tiếng Rockefeller và JP Morton ở châu Âu vào nước Mỹ. Điều gì có lợi cho các tập đoàn tài phiệt đến ắt phải đến. Từ đây mọi sức khỏe của kinh tế trên thế giới đã thuộc về tay các ông trùm tài phiệt toàn cầu.



"Đạo luật Nelson Aldrich" đã dẫn nước Mỹ và nhân loại sang một trang mới của lịch sử. Trước tiên là một bước ngoặt thay đổi về bản chất về quyền lực nắm giữ đồng tiền. Từ khi ra đời đến nay, FED lộ rõ bản chất là ngân hàng trung ương tư hữu và Chính phủ Mỹ đã không còn cổ phần trong FED. Khi chính phủ muốn chi tiêu quá phần tiền thu thuế từ dân Mỹ thì chính phủ phải vay tiền từ FED thông qua FED in thêm tiền. Quốc hội có nhiệm vụ khống chế FED nhưng trên thực tế điều này dường như thể hiện ngược lại.




Cục Dự trữ liên bang Mỹ về hình thức là của Chính phủ Mỹ, nhưng bản chất là của các nhà tài phiệt mà thôi. Sự lấp liếm và lách luật của nhóm dự thảo trên đảo Jekyll mà Paul Warburg là bộ óc tài tình chấp bút mới có thể thiết kế hoàn hảo đến như vậy!



Rốt cuộc FED là tổ chức duy nhất được phép in tiền giấy Mỹ kim. Chính phủ Mỹ chỉ được phép đúc tiền đồng Mỹ kim từ giá trị 1 đôla hoặc nhỏ hơn. Mỗi lần FED in thêm tiền USD bao nhiêu thì Chính phủ Mỹ, hay nói cách khác là người dân Mỹ, phải nợ FED bấy nhiêu tiền. FED đã áp dụng một cơ chế có tên gọi Mandrake mà theo đó có thể phù phép biến nợ thành tiền. Mức lãi suất trên các khoản vay được coi như một kiểu cho vay nặng lãi được thể chế hóa bởi FED.



Sản phẩm của cơ chế này là sự mở rộng nguồn cung tiền tệ một cách giả tạo hay còn gọi là lạm phát. Như thế, người dân Mỹ đang gánh chịu một sự bất công lớn nhất thế giới, người dân đã bị chính phủ thế chấp tương lai của mình vào trong tay các nhà tài phiệt ngân hàng một cách vô thức, họ phải ra sức đóng thuế để chính phủ còn có tiền trả lãi cho FED. Hóa ra, lượng phát hành đôla càng lớn thì thuế má càng đè nặng trên vai người dân. Cái vòng luẩn quẩn ấy sẽ tồn tại và tiếp diễn, vay nợ, vay nợ... cho đến ngày mà Chính phủ Mỹ trả hết nợ thì đồng đôla cũng... biến mất!



Rõ ràng việc FED phát hành ra tiền từ chỗ họ không có gì trong tay và thu được tiền lãi khổng lồ từ Chính phủ Mỹ là một trong những sự thật vô lý hằng ngày đang hiển hiện. Một điều quan trọng nữa là cũng chính từ "đạo luật Nelson Aldrich", FED được quyền làm tăng hay giảm giá đồng Mỹ kim và các ngân hàng thương mại có quyền bơm tiền vào thị trường hay thu tiền vào lại ngân hàng một cách tự do. Như thế, giống như một trò ảo thuật, các ông trùm mới là người bày ra luật chơi thổi phồng cái bong bóng kinh tế hoặc chích quả bóng để tạo ra những cái gọi là"cuộc suy thoái chủ động"!

(*): FED là người đặt hàng, còn việc in tiền đơn thuần về mặt kỹ thuật được tiến hành tại xưởng in đặc biệt của Bộ Tài chính. FED sau đó sẽ mua lại số tiền theo giá bằng với chi phí in của chúng – tức là khoảng 6 xu cho một tờ giấy bạc – và sau đó phân phối chúng cho các cơ quan tài chính trong và ngoài nước.



TÙNG BLOG
Share:

TÌM KIẾM

ĐỒNG HỒ

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM

  • SỐ LƯỢNG BÀI VIẾT
  • SỐ LƯỢNG BÌNH LUẬN
  • SỐ LƯỢNG NGƯỜI XEM

ĐANG GHÉ THĂM

Người theo dõi