Tri thức là những giọt nước trong đại dương bao la!

Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học - Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học - Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018

HỒ QUÝ LY, HOÀNG ĐẾ SINH SỚM THỜI ĐẠI

DŨNG PHAN
Từ thành phố Thanh Hóa, đi theo quốc lộ 45, chúng ta sẽ đi vào huyện Vĩnh Lộc. Nơi ấy, có một di tích lịch sử vẫn còn để lại cho đến hôm nay: đời sau gọi là “Thành nhà Hồ”. Nhưng, nếu ai có chút hiểu biết về lịch sử và kiến trúc của một tòa thành thời xưa, thì những gì còn sót lại hôm nay không thể gọi là “thành nhà Hồ”, mà chỉ có thể gọi là “Cổng tường thành nhà Hồ.” Phải, đây chỉ là cổng Nam đi vào trong thành nhà Hồ mà thôi. Nơi mà thiên tài khoa học Hồ Nguyên Trừng đã xây dựng nên trong vòng 3 tháng. Còn thành nhà Hồ ở đâu? Đấy chính là cánh đồng hoang vu, cỏ mọc dại và những con trâu đang găm cỏ ở phía trong. Hơn 600 năm trước, những bãi cỏ ấy mới chính là Thành nhà Hồ, với Tử Cấm Thành nằm ngay chính giữa. Đấy là nơi hoàng đế nước Đại Ngu tên là Hồ Quý Ly thượng triều.
Câu hỏi đặt ra: vì sao nơi này chỉ còn là phế tích cô liêu đến như vậy? Tử Cấm Thành nơi nào? Cung điện nơi nào? Và các tòa lầu nơi hoàng hậu, cung nữ ở, đã đi đâu rồi? Xin trả lời: ngày giặc Minh tràn vào nước ta, vua tôi Đại Ngu đã thất bại, nên giặc Minh đã đập phá hết nơi này. Khách thập phương đến thăm hôm nay, chỉ còn thấy hai con rồng đá trên bậc thang tàn tích, tượng trưng cho một thời đã có một vị hoàng đế ngồi ở đấy, còn lại tất cả mọi thứ đã mất. Cô liêu như chính vị hoàng đế ấy trong lịch sử Việt Nam, một người đi giữa sự phủ nhận của hậu thế, một người chứa quá nhiều những cải cách vượt tầm thời đại, cùng một lịch sử là bài học của tiền nhân rõ rệt trên từng khung hình cuộc đời. Tên của vị hoàng đế ấy chính là Hồ Quý Ly.
Tháng 2 năm 1400, một vị quyền thần có tên là Lê Quý Ly đã bức vị vua cuối cùng của thời đại Đông A anh hùng xuống khỏi ngai vàng: vua Trần Thiếu Đế. Ngài tự mình lên làm vua, đổi sang họ Hồ, đặt niên hiệu Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu, nhà Hồ chính thức thay nhà Trần. Và vị hoàng đế Hồ Quý Ly, với khát vọng “xốc” lại một đất nước Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng giai đoạn cuối triều Trần, đã tiến hành những cải cách mang tính triệt để nhất. Như đã biết, triều Trần là một triều đại anh hùng với ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, nhưng cũng là một triều đại nhiều tai tiếng nhất lịch sử Việt Nam. Chẳng hạn như với việc kết hôn cận huyết, thì đây là triều đại có những mối tình loạn luân lớn nhất lịch sử. Còn chính sách phân chia ruộng đất cho các quý tộc Trần, sở hữu các quyền lợi địa chủ, với việc sống trong những thái ấp riêng, đó lại chính là một “con dao hai lưỡi”. Trong thời chiến, việc bảo vệ quyền lợi bản thân trước sự xâm lăng của ngoại bang, cũng giúp tạo nên tinh thần bảo vệ đất nước. Tuy vậy, trong thời bình, đó chính là nguyên nhân của thói xa hoa, tham nhũng và hút máu nhân dân.
Hồ Quý Ly khi lên đã nhìn thấy điều đó, và để chia nhỏ thế lực của giới quý tộc, đưa ruộng đất trở lại với người dân để kích thích sự phát triển kinh tế. Hồ Quý Ly ban hành chính sách “hạn điền” (giảm số ruộng). Ông cho làm lại sổ ruộng đất, sung công hàng loạt ruộng đất vô chủ, vô thừa nhận hay quá hạn. Điều này giúp giảm số ruộng tư, hạn chế thế lực và đất đai của các địa chủ lớn. Đi cùng với “hạn điền” chính là “hạn nô” (giảm số nô lệ), đấy là việc ban hành chính sách mới khi đưa hàng loạt nô lệ của những quý tộc Trần đi ra cuộc sống, giảm mạnh số nô lệ ở các thái ấp của những quý tộc nhà Trần, và tránh việc sung vào trong nội bộ các địa chủ địa phương thêm những nô lệ mới. Ngoài ra đó là việc đào tạo nhân tài rộng khắp, không kể xuất xứ, khác với triều Trần chỉ ưu tiên cho con cháu quý tộc.
“Hạn điền” và “Hạn nô” đã giúp cho nhà nước có thêm ruộng đất công và các nhân lực tự do, tạo nền tảng kinh tế, xã hội mới, qua đó đánh sập những tàn dư hủ bại của triều đại cũ. Tuy nhiên, đây chính là nguyên nhân trực tiếp cho việc họ Hồ khi lên ngôi mất đi sự ủng hộ của các tầng lớp quý tộc và thế tộc có tiếng nói trong lòng nhân dân, khiến cho Hồ Quý Ly sẽ không nhận được sự ủng hộ của người dân trong cuộc chiến với quân Minh. Đội quân đã tràn vào Đại Việt với sự dẫn đường của một người phía nhà Trần: Trần Thiêm Bình.
Hồ Quý Ly còn tiến hành các cải cách vượt tầm thời đại khác. Trong đó đặc biệt là ở giáo dục và y tế. Trong cái thời mà trí thức đất nước được thể hiện qua việc đưa ra những câu đối và “anh đã đối, mời chú đối lại” - sinh ra một nền kinh tế nông nghiệp với những nhà Nho sống mọt sách, thiếu thực tiễn, thì Hồ Quý Ly đã đưa toán học vào trong thi cử. Sự xuất hiện của Toán học trong giáo dục Việt Nam thế kỷ 15, chính đã giúp phát hiện ra những nhân tài ở mảng khoa học kỹ thuật như Kiến trúc sư Nguyễn An (người sau này là một trong những kiến trúc sư trưởng xây Tử Cấm Thành Bắc Kinh), hay ở chính người con trai cả của ông: Hồ Nguyên Trừng, một thiên tài toàn năng của lịch sử dân tộc Việt. Hồ Nguyên Trừng khi không chỉ là nhà thơ, nhà văn, kiến trúc sư, nhà bác học đã sáng tạo nên thuyền cổ lâu (thuyền chiến hai tầng) và súng thần công, mà còn là nhà chính trị lỗi lạc với câu nói nổi tiếng “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo.” Cải cách y tế, Hồ Quý Ly lập ra các y tì để coi sóc việc thuốc thang (một dạng bệnh viện như ngày nay). Đặc biệt, đã đưa tiền giấy vào sử dụng sớm trước 500 năm. Hôm nay nhìn về, những cải cách của Hồ Quý Ly thật sự là chấn động.
Những cải cách có tính sâu rộng của Hồ Quý Ly đã lật ngược lại cả một xã hội phong kiến, khiến cho “nợ máu” của Hồ Quý Ly không đơn thuần chỉ là 370 mạng người trong cuộc binh biến thất bại của thượng tướng quân Trần Khát Chân. Mà đấy là một mâu thuẫn có tính xã hội, thời đại. Chúng âm ỉ, có tính phá hoại, để rồi sinh ra một tầng lớp chính những người Việt đã để cái ích kỷ cá nhân đặt cao hơn sự tồn vong của dân tộc. Đất nước rơi vào tay nhà Minh không chỉ lỗi ở Hồ Quý Ly như sử sách đã nói sau này, mà còn do những quý tộc Trần thời mạt vận. Phải mãi cho đến đời sau, nhìn lại Hồ Quý Ly cùng các cải cách của ông, khi đối chiếu với chính xã hội hiện đại, ta mới có thể nhìn ra được cái tầm vóc vĩ đại của ông. Còn trong lăng kính của thời phong kiến, ông chỉ là tội đồ. Nhà Hồ không có lòng dân không phải vì nhà Hồ không nghĩ cho dân, mà vì dân không hiểu những cải tổ của nhà Hồ. Đấy cũng là cái bi kịch của Hồ Quý Ly trong mộng ảo và sự vội vã cải cách.
Ông là một vị vua cải cách không gặp thời.
Năm 1407, cha con Hồ Quý Ly thất bại trong việc chống trả lại cuộc xâm lăng của nhà Minh. Vậy là nhà Hồ diệt vong sau 7 năm trị vì ngắn ngủi. Đất nước bước vào thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ 4. Cũng trong năm 1407 đó, Hồ Quý Ly mất ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Nơi đất khách quê người, ngài mang theo một bi kịch và sự thống hận đi xuống cửu tuyền. Hồ Quý Ly là một thiên tài, chứ không nên nhìn mãi trong lăng kính khắt khe như một nhà vua thất bại. Nhưng cái tài của ông đã không gặp thời, đã để sai thời điểm. Hậu thế nhìn lại những điều mà bậc tiền nhân vĩ đại mà không gặp thời kia thực hiện, để lấy chính bài học cho chính hôm nay. Một mục tiêu tốt, cần thực hiện với một lộ trình đầy đủ, tuần tự và không gấp rút, vì điều này có thể gây xáo động xã hội. Và quan trọng hơn, cải cách tốt nhưng cũng cần có sự hợp thời ở trong đó. Vào cái giai đoạn Đông Nam Á và Đông Á bị phủ bóng bởi nền văn minh Nho Gia vĩ đại ở Trung Hoa. Đôi khi không phải khi nào “ngược sóng” cũng có thể mang đến những điều tốt đẹp, mà có khi còn đánh đổi bằng một bi kịch lớn lao hơn.
Tuy nhiên, không phải khi nào bị động cũng sẽ giữ được đất nước. Ngược lại, luôn cần những người cải cách như Hồ Quý Ly xuất hiện, và vấn đề phải là những cuộc cách mạng đúng lúc, đúng thời điểm, chuyện vua Minh Mạng của thế kỷ 18, 19 là bài học như thế. Đấy là một ví dụ khác cũng là vấn đề sai thời điểm, nhưng theo cách trái ngược với Hồ Quý Ly.
(Dũng Phan)
Mọi liên hệ với tác giả Dũng Phan
//
Share:

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018

TẠI SAO QUANG TRUNG ĐÒI LƯỠNG QUẢNG?




Đã bao giờ bạn tự hỏi điều đó?



Có bao giờ bạn đặt ra câu hỏi đó không?

Lịch sử hãy biết đặt câu hỏi, và bạn có thể hiểu nhiều hơn những gì bạn đã có và đang có.

Để hiểu tại sao hoàng đế Quang Trung đòi Lưỡng Quảng chứ không phải đòi Vân Nam, đòi Bắc Kinh. Ta phải lùi lại trước đó 2000 năm.

Năm 257 TCN.

Một nhân vật đến giờ còn gây tranh cãi sẽ xuất hiện ở đây với các bạn hôm nay, đấy là Triệu Đà. Có thực Triệu Đà là giặc? Ông là giặc hay là tổ tiên của chúng ta.

Những gì tôi nói đến sau đây, sẽ tùy vào lăng kính mỗi người, không ép buộc.

//

Người trẻ Việt Nam được học bài đầu tiên về lịch sử nước Nam. Đầu tiên là những câu chuyện về Hồng Bàng, Kinh Dương Vương, Âu Cơ - Lạc Long Quân, rồi đến các vua Hùng. Sau câu chuyện về Vua Hùng sẽ là câu chuyện Mỵ Châu - Trọng Thủy. Nơi ấy có thành Cổ Loa, có nước Âu Lạc, có Thục Phán An Dương Vương

"Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Đến nỗi cơ đồ đắm biển sâu".
- Thơ Tố Hữu

"Giặc" trong thơ Tố Hữu chính là Triệu Đà. Triệu Đà đã chiến thắng An Dương Vương, qua đó sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt. 

Những gì các bạn đang thấy chính là nước Nam Việt. Hãy xem bản đồ đó và bạn sẽ thấy nước Nam Việt bao gồm những gì: Quảng Đông, Quảng Tây, và miền Bắc Việt Nam bây giờ.

Sử gia Việt Nam trong vòng 2000 năm cho tới thập kỷ 60 của thế kỷ 20 tất cả đều công nhận Triệu Đà. Người công nhận Triệu Đà không phải là người mà các bạn ở đây có quyền chửi bới. Người công nhận Triệu Đà chính là Nguyễn Trãi qua bản Bình Ngô Đại Cáo

"Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nên độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương."

Đinh là ai? Đinh Bộ Lĩnh, Lý là ai? Lý Công Uẩn, Trần là ai? Trần Cảnh - Trần Thủ Độ. Vậy Triệu là ai thế?

Đấy là Triệu Đà.

Bộ Đại Việt sử ký soạn bởi Lê Văn Hưu cũng chép từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng. Đại Việt sử ký chép lại:

"Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được"

Ngay cả bây giờ, dù sử gia có chép Triệu Đà là giặc. Đền thờ ông vẫn xuất hiện ở một số tỉnh ở miền Bắc. Những bạn đọc bài viết này có đền gần đấy có thể xác nhận.

Giặc hay là tổ tiên?

//

Tiếp tục, năm 111, Nhà Triệu diệt vong, toàn bộ lãnh thổ Nam Việt thuộc về Nhà Hán. Đất Lưỡng Quảng lúc này nằm trong quận Giao Chỉ.

Bạn nghe rõ rồi chứ. Giao Chỉ của các đời Đường, Tùy...vẫn bao gồm cả Quảng Đông lẫn Quảng Tây. Sau này, những Hai Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục ... dựng cờ khởi nghĩa trong khoảng 1000 năm Bắc Thuộc chính là lấy lại Nam Việt ngày nào. Bạn không tin? Năm 43, Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, một lực lượng đi theo bà chính là cư dân vùng Hợp Phố - Trung Quốc.

Văn Lang là tập hợp những bộ lạc, Âu Lạc vẫn còn manh mún. Tại sao nước ta 1000 năm vẫn quyết phản kháng? Ngoài văn hóa và con người Giao Chỉ - Việt Nam xưa nay. Có phải cũng vì một đế chế nữa tạo lập nên cho dân vùng đó một sự quật cường đòi lại nguồn gốc không? 

Năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán và chấm dứt 1000 năm Bắc Thuộc. Nhưng Ngô Quyền vì lực mỏng chỉ dừng ở Đại La. không tiến ra Quảng Đông - Quảng Tây để lấy lại phần đất đó nữa. Kể từ hôm ấy, Quảng Đông - Quảng Tây dần dần thuộc về Trung Quốc.

Nhưng có 1 người không chấp nhận điều đó.

Đấy là kẻ hùng tài đại lược, bất khả chiến bại sinh ra sau đó 800 năm: Quang Trung - Nguyễn Huệ.

Bạn hiểu tại sao Quang Trung đòi Lưỡng Quảng rồi chứ? Ai rảnh mà tự nhiên trời ơi đất hỡi đi đòi đất? Và không đòi cái gì lại chọn Lưỡng Quảng mà đòi. Bởi thời đại Quang Trung vẫn coi Triệu Đà là tổ. Và đất của tổ tiên là cần lấy lại.

"Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ trước không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung Quốc hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa."

Slogan của diễn đàn Hoàng Sa cũng là một kiểu nhắc nhớ như chính Quang Trung ngày xưa vậy. Ngày ông tin rằng với tài năng và bá khí của mình, sẽ lấy lại đất cho tổ tiên. 

//

Vậy tại sao có sự tranh cãi như hôm nay, và chính ngay cả tôi viết bài hôm nay cũng chỉ cho các bạn một cách nhìn và một sự hiểu biết thêm về lịch sử chứ không bảo các bạn đi đòi đất.

Bởi khi công nhận Triệu Đà là ta gián tiếp công nhận Lưỡng Quảng là của nước ta. Điều này rất vô lý ở thời điểm bây giờ. Sau hội nghị Ianta về chấm dứt chiến tranh thế giới thứ 2 cùng sự ra đời của tổ chức Liên Hợp Quốc, mọi thứ lãnh thổ đất liền cơ bản đã được xác nhận. Đấy là sự tiến hóa của nhân loại và sự phân chia đâu ra đó để ngăn cản chiến tranh. 

Ok, thích lấy Quảng Đông hả? Cứ lấy, và trả một phần miền Nam Bộ cho Campuchia. Chứ đâu ra cái chuyện ăn trên đầu trên cổ người ta. Đất mình mất thì đòi lại, đất mình lấy thì giữ luôn. Sự tiến hóa của nhân loại là để các bản đồ được giữ nguyên hiện trạng như bây giờ.

Về điểm này mà nói, các sử gia miền Bắc khi kể chuyện Mị Châu đã cố gắng tránh điều này, trong giai đoạn nhạy cảm về các mối quan hệ chính trị - ngoại giao. Đấy là một điểm đúng trong giai đoạn đó. Bây giờ mọi thứ đã tương đối ổn định, ta cũng nên lật ra để bàn luận nhằm hiểu lịch sử hơn.

Hôm nay tôi lai rai chuyện lịch sử này. Vốn là để các bạn hiểu vì sao Quang Trung đòi Lưỡng Quảng, vốn là cho các bạn biết về một trang sử bị bỏ quên của dân tộc, và qua đó hiểu hơn về những di chỉ thời cổ đại cùng mối uyên nguyên của nước ta và Trung Quốc. Chính cái mối uyên nguyên này để ta có cách nhìn rõ ràng hơn về ông hàng xóm béo bụng đó, về liên hệ giữa ta và họ và qua đó có cách nhìn rõ hơn cho hôm nay. 

Chúng ta chỉ có thể đi đến tương lai trên nền tảng vững chắc về lịch sử. Đấy là điều tôi gửi gắm qua bài viết.

Chúc một ngày tốt lành !

© Dũng Phan
Share:

NƯỚC TA CÓ MẤY NGÀN NĂM VĂN HIẾN?

Mỗi đứa trẻ Việt nam ta, từ khi còn bé thơ cho đến khi trưởng thành gần như đều thuộc lòng 2 câu:
1 - Chúng ta là Con Rồng cháu Tiên.
2 - Nước ta có 4.000 năm văn hiến
Giờ ta hãy thử mổ xẻ xem sao.
+ Câu thứ nhất: Con Rồng cháu Tiên
Nghe thì có vẻ thuận miệng, nhưng có gì đó sai sai. Đúng ra phải là "Con Tiên - Cháu Rồng". Vì bà Âu Cơ sinh ra 100 người con thì đúng rồi, nhưng ông Long Quân, trước khi làm chồng "người ta", ổng đã là bậc chú của vợ tương lai mình. Chuyện này sách cũ nào cũng chép như thế:
Ông Đế Minh có 2 người con là ông Đế Nghi (Ly) và ông Lộc Tục.
Ông Đế Nghi sinh ra ông Đế Lai. Ông Đế Lai sinh ra cô Âu Cơ - đẹp như Tiên. Tức cô Âu Cơ là cháu nội ông Đế Nghi.
Ông Lộc Tục (Tức Kinh Dương Vương) lại sinh chàng Sùng Lãm - tức Lạc Long Quân - Vua Rồng họ Lạc.
Như vậy Lạc Long Quân về vai vế là chú lấy Âu Cơ là bậc cháu. Vì thế, đúng tôn ti trật tự, ta phải gọi là Con Tiên cháu Rồng mới đúng.
Mặt khác, câu: dòng Tiên giống Rồng nên được trích dẫn nguyên câu tiếng Việt:
“Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài.”.
Cô Âu ở rừng, ông Lạc xuống biển, rồng thành giao long thuồng luồng. Nên cần phải hiểu Tiên Rồng ở đây theo nghĩa của bản hit của Sơn Tùng là “Chúng ta không thuộc về nhau”. Đấy cũng là định mệnh tiền định của dân tộc mình, khó ăn ở, ly biệt nhau hoài.
//
+ Câu thứ 2: về con số 4.000 năm văn hiến
Vào thế kỷ 15, khi viết Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi (1380-1442) chỉ nói: “Duy, ngã Đại Việt chi quốc, thật vi văn hiến chi bang”.
(Ngô Tất Tố dịch: Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu).
Có thể thấy, ngay trong "Cáo bình Ngô", cụ Ức Trai cũng không dám mạnh miệng xác định nước Nam có mấy ngàn năm văn hiến.
Cũng thế kỷ 15, trong Đại Việt sử ký toàn thư (Ngoại kỷ), quyển III, sử gia Ngô Sĩ Liên viết: “Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương”.
Như thế Ngô Sĩ Liên xác định VN có văn hiến kể từ thế kỷ 2 sau Công nguyên (CN), suy ra tính đến thế kỷ 21 VN vẫn chưa tròn 2.000 năm văn hiến!
VẬY TỪ ĐÂU CÓ CON SỐ TRÒN TRỊA 4.000?
Trước năm 1960 thời điểm viện Sử học Việt Nam Dân chủ cộng hòa bắt tay chứng minh sự tồn tại của vua Hùng và thời đại vua Hùng, hai trong các sử gia hàng đầu của Việt Nam - nếu không nói là 2 người giỏi nhất: Cụ Trần Trọng Kim và học giả Đào Duy Anh đều không thừa nhận có cái gọi là Vua Hùng và thời Hồng Bàng - nhà nước Văn Lang. Các sử gia ngoại quốc, chủ yếu là Pháp cũng nhận định như thế. Có ông còn bảo là Lạc Long Quân thì phải đẻ ra Lạc vương, Lạc hầu, Lạc dân chứ, sao lại đẻ ra Hùng, đấy là ông Maspero, người Pháp, ông này cho rằng Hùng có khi là do chữ Lạc viết trệch đi mà thành.
Ý kiến của cụ Trần Trọng Kim có lẽ là xác đáng nhất: “Nhưng ta phải hiểu rằng, nước nào cũng vậy, lúc ban đầu mờ mịt, ai cũng muốn tìm cái gốc tích mình ở chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng loại của mình….”. (Việt Nam sử lược - phần họ Hồng Bàng)
Thế nên Con số 4.000 dường như được nói tới khá phổ biến từ nửa sau thế kỷ 20. Bấy giờ có người đã lấy khoảng 2.000 năm sau CN để cộng với khoảng 2.600 năm TCN (thuộc thời đại Hùng Vương) rồi “làm tròn” con số xuống còn chẵn… 4.000.
Vậy con số 2.600 này ở đâu ra? Đó căn cứ theo cách tính của sử thần Ngô Sĩ Liên đời Lê. trong Đại Việt sử ký toàn thư (Ngoại kỷ), quyển 1, ông viết:
“Trở lên là [kỷ] Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm Nhâm Tuất, cùng thời với Đế Nghi, truyền đến cuối thời vua Hùng Vương, ngang với đời Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 [258 TCN] là năm Quý Mão thì hết, tất cả 2.622 năm [2879 - 258 TCN]”. Theo bản dịch của Viện KHXH VN (1985-1992), bản in NXB KHXH (Hà Nội 1993).
Sử gia miền Nam - Đại tá Việt Nam Cộng hòa - Phạm Văn Sơn thì cho rằng: "Thời Hùng Vương chắc có tầm 600 năm trước CN, trừ đi 200 năm thời ông An Dương Vương, lấy con số này chia cho 18 đời vua, 1 ông ngồi khoảng 20 năm, có khi lại hợp lý về mặt thời gian."
Nghiên cứu đầy đủ về thời kỳ lịch sử này được trình bày trong công trình nghiên cứu tên là "Thời đại Hùng Vương” xuất bản năm 1973 - do ông Văn Tân, người được coi là trưởng lão của ngành cổ Sử miền Bắc trước 1975, chủ biên. Nghiên cứu này là một ví dụ thú vị về cách làm sử của giới sử học miền Bắc. Xin kể ra một vài điểm:
● Để chứng minh quốc gia Lạc Việt - Nhà nước Văn Lang là có thật, các nhà nghiên cứu bắt đầu chứng minh An Dương Vương là nhân vật lịch sử, và thành Cổ Loa chính là vật chứng không thể chối cãi. An Dương Vương có thật thì đương nhiên kẻ bị ông đánh bại - thủ lĩnh của người Lạc Việt - ông Hùng phải là có thật. Ông An Dương Vương có quân đội, đương nhiên ông Hùng cũng có quân đội: 1 đặc điểm của mọi hình thái nhà nước.
(Nói thêm một tý, hiện tại, một số nhà nghiên cứu Hán Nôm trẻ tuổi, có 1 người trong đấy tên là Trần Trọng Dương còn táo tợn hồ nghi Thành Cổ Loa xây muộn hơn rất nhiều, vào tầm thế kỷ 9-10 gì đấy. Không dám bình luận thêm về tồn nghi này.)
● Có ông Hùng cuối thì ông Hùng đời đầu tất nhiên tồn tại. Việc tại sao có 18 đời vua mà đến khoảng 2500 năm, các sử gia lúc đấy giải thích như sau:
"Nhưng dù sao giới hạn trên cùng này (năm 2879 trước CN) ở ta chằng qua cũng chỉ nằm trong phạm vi thời đại đồ đá mới…” - trang 53.
Sau đấy các bằng chứng về khảo cổ học, dân tộc học được đưa ra nhằm chứng minh, những rìu đá, cày đồng… đào ở di chỉ Phùng Nguyên có niên đại tầm 3,500- 4,000 năm. Từ đó suy ra, nhà nước Văn Lang tức thời đại Hùng Vương tồn tại khoảng 2,000 năm là điều tất nhiên. Hay, 1 ông vua giữ nhiệm kỳ hơn 1 thế kỷ không phải là hoang đường
● Một chứng minh vô cùng sáng tạo nữa trong công trình nghiên cứu này để khẳng định tính đầy đủ của hình thức tổ chức nhà nước Văn Lang, đấy là việc nội suy tài tình về sự tồn tại của pháp luật ở thời Hùng Vương. Theo các sử gia, Mã Viện sau khi đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng (khoảng năm 43 sau CN tức cách các đời đầu vua Hùng khoảng 2000 năm) đã tâu lên vua Hán rằng:
"Luật bên đất Giao Chỉ này có khoảng 10 điều khác bên ta."
Các sử gia ta căn cứ vào đấy và khẳng định rằng: Thời 2 Bà Trưng đã có luật, luật đấy phải có từ trước đấy, suy ra thời Hùng Vương có luật. Ngoài ra việc An Dương Vương chém Mị Châu, chứng tỏ, thời đấy đã áp dụng tinh thần luật pháp Quân pháp bất vị thân - trang 164 & 165
● Với hơn 10 năm nghiên cứu với các chuyên ngành bổ trợ: khảo cổ, dân tộc học, ngôn ngữ so sánh, địa lý học... từ 1960 đến 1970, các sử gia miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc công cuộc chứng minh vua Hùng là có thật, thời đại Hùng Vương 2,000 năm là sự thât lịch sử chứ không phải là huyền thoại hoang đường.
KẾT:
Căn cứ vào kết luận khoa học này, lời mở đầu Hiến pháp năm 1980 đã tuyên bố: "Trải qua 4000 năm lịch sử , nhân dân Việt nam lao động cần cù…”
Không hiểu sau đấy Viện Sử học có thêm công trình nghiên cứu khác không, mà các Hiến pháp từ năm 1992 về sau sửa lại một tý : “Trải qua mấy nghìn năm lịch sử……”.
Và chúng ta có con số 4.000 năm văn hiến như thế đó.
© Trần Lâm Trung (đăng trên Cổ Thư Lâu) & học giả Nghê Dũ Lan
© Hiệu đính: son.le
→ Các bạn có thể xem thêm những bài khác theo mục lục của X-File: https://bit.ly/2HjsimL
.
Share:

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018

CÂU CHUYỆN VỀ KIM JONG UN - ĐỪNG ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM

SHADOWLESS
Như chúng ta đã biết, trong thời gian qua, một trong những sự kiện nổi tiếng trên thế giới được nhiều nhà phân tích chính trị cũng như cộng đồng mạng hết sức quan tâm đó chính là việc bình thường hóa quan hệ để dần đi tới thống nhất hai miền Triều Tiên giữa Triều Tiên và Hàn Quốc. Nếu thực tế kết quả được như vậy thì đúng là không có gì quý hơn và đó cũng chính là hạnh phúc vô bờ bến của dân tộc này. Bởi lẽ, sau sự kiện Ký kết hiệp định Bàn Môn Điếm năm 1953, hai miền Triều Tiên đã lâm vào hoàn cảnh tương tự như Việt Nam trước đây đó chính là bị chia cắt đất nước ra làm đôi; phía Bắc là Triều Tiên theo chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa còn phía Nam là Hàn Quốc theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa. Nhưng không giống Việt Nam ở chỗ do nhiều yếu tố khác nhau mà đến tại thời điểm hiện nay, đất nước này vẫn chưa được thống nhất. Và những cuộc gặp lịch sử giữa nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in cũng tại Bàn Môn Điếm và sắp tới là cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Donald Trump đã hứa hẹn những dấu hiệu tích cực cho điều này.
Nguyễn Tường Thụy, Bùi Tín
Cuộc gặp lịch sử giữa hai nhà lãnh đạo Triều Tiên và Hàn Quốc tại Bàn Môn Điếm; ảnh: internet
Đó có thể nói là thành công lớn nhất của nhà lãnh đạo Kim Jong Un trong vấn đề hòa hợp dân tộc. Tuy nhiên, một số Bogger “dân chủ Cuội” thông qua các bài viết của mình trong những ngày vừa qua đã lợi dụng sự việc này để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam như Nguyễn Tường Thụy, Bùi Tín... Bên cạnh đó, chúng còn công kích trực tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi cho rằng Tổng Bí thư cần phải sang Triều Tiên học hỏi lãnh đạo Triều Tiên thông qua bài viết “Ông Trọng nên sang Bình Nhưỡng học chú Kim” được đăng tải trên trang Đàn Chim Việt của Bùi Tín. Đó là những lập luận không thể chấp nhận được.
Thứ nhất, đất nước ta hiện nay hoàn toàn không giống Triều Tiên. Bởi lẽ, cách đây đúng 43 năm, ngày 30/4/1975, bỏ qua sức ép về mặt chính trị của một số nước lớn, bằng bất cứ giá nào quân và dân ta đã quyết tâm thống nhất đất nước và đã biến điều này thành hiện thực. Đó là điều không thể phủ nhận và liệu rằng Triều Tiên hay Hàn Quốc trước những sức ép từ nhiều phía cho đến thời điểm này đã có thể thống nhất hai miền đất nước. Liệu ai phải học tập ai hả Bùi Tín?
Thứ hai, Bùi Tín cho rằng: “Cái tài, cái khôn, cái giỏi của lãnh tụ hạt tiêu Kim là dám tách dần ra và chống sức ép của Trung Cộng cường quốc ở sát biên giới phía Bắc để thực hiện quyền độc lập tự chủ được toàn thế giới hoan nghênh và Liên hợp Quốc bảo vệ. Học ở Thụy Sỹ, nói tiếng Anh rất sõi, học tiếng Pháp ngang cấp đại học, mê bóng rổ, fan của nhạc rock và jazz, phi ngựa, lái máy bay, đâu phải chỉ là «chú bé tên lửa» như ông Trump đánh giá”. Thật hết sức nực cười khi đề cập đến vấn đề này. Chúng ta hoàn toàn có thể nghi ngờ rằng, năm xưa, khi Bùi Tín trốn chạy khỏi đất nước, dường như y đã nghe theo tiếng gọi của những giá trị phương Tây chứ hoàn toàn không phải vì cái gì đó to tát mà y luôn mang theo trên “mồm”. Điều này càng cho thấy trình độ nhận thức của một tay blogger đã “cũ” mà đám rồ trên mạng vẫn đang tôn sùng và cổ vũ.
Tóm lại, chuyện Triều Tiên thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc được là chuyện vui của đất nước họ, chúng ta không phán xét hay bình luận gì thêm vì chính chúng ta cũng đã trải qua quãng thời gian như vậy. Tuy nhiên, lợi dụng sự kiện đó để công kích, vu khống lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chỉ trích chế độ ta là không thể chấp nhận được.
Share:

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018

HỒ CHÍ MINH DỤNG BINH PHÁP TÔN TỬ VÀ TAM THẬP LỤC KẾ

Tôn Tử binh pháp và Tam thập lục kế (36 kế) là những tác phẩm binh thư cổ có giá trị nhất của Trung Quốc, xuất hiện từ thời xuân Thu và truyền đời mãi mãi. Tôn Tử được suy tôn là “Thuỷ tổ binh học phương Đông”, “Thuỷ tổ binh học thế giới”… Trước tác chính của Tôn Tử binh pháp là bộ binh pháp 13 thiên (Thuỷ kế, Tác chiến, Mưu công, Quân hình, Binh thế, Hư thực, Quân tranh, Cửu biến, Hành quân, Địa hình, Cửu địa, Hoả công và Dụng gián). Được viết bằng cổ văn tiền Tần, với hơn 5.900 chữ.
Tam thập lục kế xuất hiện sớm nhất trong các câu chuyện thời Xuân Thu, Chiến Quốc. Về sau, nhiều đời, nhiều người đã ghi chép, biên soạn, hiệu đính. Hai cuốn sách đó tập hợp lại thành mưu kế trí tuệ của nhân dân Trung Quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Người cha thân yêu của các lực lượng vũ trang, trong suốt cuộc đời đấu tranh cách mạng, giành độc lập tự do cho tổ quốc đã vận dụng Tôn Tử binh pháp và Tam thập lục kế trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao và nhất là quân sự, giành những thắng lợi quan trọng, đúng với điều mà binh pháp Tôn Tử đã nói: “Không đánh mà khuất phục đối phương mới là người giỏi trong những người giỏi vậy”.


Hồ Chủ tịch trong chiến dịch biên giới
Để có tài liệu giảng dạy trong các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ cách mạng trong những năm ở Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (1941 - 1945) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng biên soạn nhiều tài liệu quân sự như: Chiến thuật du kích (Việt Minh xuất bản tháng 5 - 1944); Kinh nghiệm du kích Tàu, Kinh nghiệm du kích Nga, Phép dùng binh của ông Tôn Tử (Việt Minh xuất bản tháng 2 - 1945)... Không chỉ biên soạn tài liệu mà chủ tịch Hồ Chí Minh còn trực tiếp hướng dẫn, giảng dạy, chỉ đạo trên thực địa (như đã từng trực tiếp hướng dẫn trong lớp huấn luyện Đội Du kích Pác Bó, cuối năm 1941).
Đọc các bài hồi ký cách mạng của những đồng chí đã từng làm việc lâu năm với Bác Hồ trong những tháng ngày Cháo bẹ, rau măng cực kỳ gian khó ta dễ dàng nhận ra tinh thần lạc quan, kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh cách mạng và nhất là sự mưu trí, sáng tạo trong việc chỉ đạo cách mạng của Bác Hồ - Những mưu kế được vận dụng là những sáng tạo tuyệt vời những kiến thức trong Tôn Tử binh pháp và Tam thập lục kế, đem lại những kết quả bất ngờ (và thú vị). Tuy nhiên không phải thắng lợi nào, mưu kế nào cũng quy cả về Tôn Tử binh pháp và Tam thập lục kế mà những Câu chuyện được trình bày trong bài viết này chỉ là sự liên tưởng, một sự so sánh trong phạm vi hẹp để có những nhận xét bước đầu về tầm chỉ đạo chiến lược, chiến thuật của chủ tịch Hồ Chí Minh trong đấu tranh cách mạng.
Xin kể đôi điều về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một số kế sách trong Tam thập lục kế.
1. Phản khách vi chủ (biến khách thành chủ)
Nội dung của kế sách này là: Thừa cơ hội chen chân vào, nắm lấy chủ quyền, tiến dần dần. Tranh địa vị chủ động là một nguyên tắc tối cao của đấu tranh. Chủ động có thể khống chế đại cục, bị động luôn bị người khác sai khiến. Trong võ thuật có thuật “Cầm nã” và “Phản cầm nã” chính là tranh đoạt thế chủ khách, tranh thủ quyền khống chế chiếm thượng phong, thay đổi hoàn cảnh theo ý chí của mình.
Trong lịch sử Trung Quốc, Lý Uyên thừa cơ khởi nghĩa nông dân, lập ra nhà Đường. Lưu Bang dùng phương châm nhẫn nhịn, đợi thời cơ tiêu diệt Hạng vũ lập nên nhà Hán... đều đã dùng kế sách phản khách vi chủ để giành thắng lợi.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng kế phản khách vi chủ trong trường hợp nào?
Trương Bội Công là người Việt, trước làm quan cho Tưởng, đã về hưu. Trương Phát Khuê - Tư lệnh đệ tứ chiến khu đưa Trương Bội Công ra thành lập một tổ chức tập hợp một số thanh niên Việt Nam ở Trung Quốc và những người Trung Quốc ở lâu năm tại Việt Nam để chuẩn bị cho “Hoa quân nhập Việt” nhưng chưa thành lập được thì đã bị điều về Tĩnh Tây lập ra Việt Nam giải phóng uỷ viên hội và “Đội công tác biên khu Trung Việt”, được sự ủng hộ mọi mặt của Quốc dân Đảng Trung Quốc. Dưới sức ép của Trương Phát Khuê yêu cầu hợp nhất Việt Nam độc lập đồng minh hội với Việt Nam giải phóng uỷ viên hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định hợp tác với Trương Bội Công ở Tĩnh Tây để kiềm chế hoạt động phản cách mạng và lợi dụng mối quan hệ giữa ông ta với Quốc dân Đảng Trung Quốc để thuận lợi hơn trong hoạt động công khai ở vùng biên giới Trung Việt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp lên Tĩnh Tây “bàn kế hoạch” với Trương Bội Công để lập ra “Hội giải phóng dân tộc Việt Nam”. Cuối năm 1940 hội đã thành lập ở Tĩnh Tây. Về danh nghĩa Trương Bội Công là người lãnh đạo cao nhất của hội này, nghĩa là Trương Bội Công là Chủ còn ta chỉ là Khách nhưng khi ta đã nhập hội với Trương Bội Công ta tiến hành phân hoá hàng ngũ của chúng, lôi kéo một số thanh niên yêu nước về với hàng ngũ cách mạng, lấy danh nghĩa “Đội công tác biên khu Trung Việt” để mở lớp huấn luyện cán bộ, được quốc dân Đảng Trung Quốc cấp kinh phí. Trên danh nghĩa những hoạt động này do Trương Bội Công chỉ đạo nhưng trên thực tế lại do những người cộng sản chi phối. Với việc làm này ta đã biến khách thành chủ, chủ động, khống chế mọi hành động của Hội giải phóng dân tộc Việt Nam, có lợi cho cách mạng Việt Nam.
Kế sách phản khách vi chủ còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một cách linh hoạt, giành thắng lợi to lớn ở Liễu Châu năm 1944.
Tháng 10 - 1942 một tổ chức có tên là Việt Nam cách mạng đồng minh hội được Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu đứng ra thành lập, gồm một số nhân sĩ các đảng phái người Việt hoạt động ở Liễu Châu, người đứng đầu Ban Chấp hành là Nguyễn Hải Thần. (Nguyễn Hải Thần tên thật là Vũ Hải Thu, năm 1905 theo cụ Phan Bội Châu sang Trung Quốc, đã theo học các trường võ bị Hoàng Phố, Hồ Nam, Thiều Quan, vốn là thanh niên Việt Nam Quang phục hội sau là đảng viên Đại Việt, tham gia quân đội Quốc dân Đảng được cử làm liên trưởng, kiêm tri huyện. Được bọn Tưởng tin dùng. Năm 1931 mở cửa hàng xem số tử vi ở Quảng Châu. Năm 1942, cùng Vũ Hồng Khanh và một số người có tư tưởng chống cộng lập ra Việt Nam cách mạng đồng minh hội). Hội được thành lập nhưng trong nội bộ có nhiều đảng phái phức tạp, chia rẽ sâu sắc. Nguyễn Hải Thần không có uy tín, không có năng lực tổ chức, lãnh đạo nên thành lập đã lâu mà hội không triển khai hoạt động được, bởi vậy Trương Phát Khuê quyết định cải tổ hội này.
Trong thời gian đó, chủ tịch Hồ Chí Minh vừa được trả tự do (10 - 9 - 1943), nhưng vẫn ở trong cơ quan Bộ Tư lệnh Đệ tứ chiến khu để “xem xét và cảm hoá” (thực chất là Quản thúc). Trương Phát Khuê biết rằng Hồ Chí Minh và mặt trận Việt Minh do Người lãnh đạo có cơ sở rộng rãi và uy tín rất cao trong quần chúng ở Việt Nam nên đã quyết định mời Hồ Chí Minh tham gia cải tổ Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy đây là một cơ hội tốt để thực hiện kế sách phản khách vi chủ nên đã nhận lời. Trước khi chính thức cải tổ, Trương Phát Khuê yêu cầu Hồ Chí Minh hợp tác với Nguyễn Hải Thần với cương vị Phó chủ tịch Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Tại hội nghị trù bị đại hội đại biểu toàn quốc Việt Nam cách mạng đồng minh hội do Trương Phát Khuê triệu tập cuối tháng 2 - 1944 chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất ý kiến: “Thành phần đại hội ngoài Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội, đại biểu quốc dân Đảng (Việt Nam) và Đảng Đại Việt ra nên có đại biểu của Việt Minh và các tổ chức thuộc Việt Minh cùng đại biểu các tổ chức khác trong nước như hội phật giáo, hội truyền bá quốc ngữ, hội ánh sáng”. Nhưng khi thảo luận, một số người không đồng ý cho các tổ chức Việt Minh cử đại biểu tham dự. Hồ Chí Minh lại đưa ra ý kiến đổi tên đại hội đại biểu toàn quốc thành đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại. ý kiến này được trình lên Trương Phát Khuê. Trương Phát khuê đã đồng ý và uỷ thác cho Hồ Chí Minh khởi thảo kế hoạch triệu tập đại hội đại biểu các đoàn thể cách mạng hải ngoại thuộc Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Thẻ đại biểu trưng bày tại Viện Bảo tàng cách mạng Việt Nam hiện nay chính là thẻ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh được cấp khi dựa Đại hội này).
Có thể thấy rằng, ngay từ đầu, chủ tịch Hồ Chí Minh đã có kế hoạch, chủ trương làm thế nào để số lượng Khách đông hơn Chủ trong Việt Nam cách mạng đồng minh hội, để nắm quyền chủ động biến khách thành chủ. Đại hội Việt Nam cách mạng đồng minh hội tổ chức vào tháng 3 - 1944 đã diễn ra theo đúng kế hoạch của chủ tịch Hồ Chí Minh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt phân hội Việt Nam chống xâm lược đọc báo cáo tại đại hội: Phong trào giải phóng dân tộc và tình hình các đảng phái trong nước và được bầu vào Ban Chấp hành Việt Nam cách mạng đồng minh hội.
Việc chủ tịch Hồ Chí Minh tham gia cải tổ Việt Nam cách mạng đồng minh hội đã đem lại kết quả là hội này hoạt động rất có lợi cho cách mạng Việt Nam và với uy tín cùng những hoạt động rất có hiệu quả của chủ tịch Hồ Chí Minh, Trương Phát Khuê ngày càng tin tưởng và nể trọng Người, tạo điều kiện để Người về nước (thoát khỏi sự quản thúc).
Tháng 7 - 1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động gửi Đệ tứ chiến khu “kế hoạch về Việt Nam công tác” với những mục đích: Một là, truyền đạt quyết tâm của chính phủ Trung Quốc ủng hộ nhân dân Việt Nam giải phóng dân tộc. Hai là: phát triển tổ chức Việt Nam cách mạng Đồng Minh hội. Ba là: chuẩn bị để đón quân đội Trung Quốc và quân đội Đồng Minh vào Việt Nam. Bốn là: giành độc lập hoàn toàn cho Việt Nam. Người còn đề xuất một số việc cần chuẩn bị kỹ trước khi đại quân của quân đồng minh kéo vào Việt Nam. Một trong những việc cần làm đó, trước hết là dẫn một số đội viên cốt cán bí mật về nước để thăm dò tình hình thực tế, triển khai công tác, rút kinh nghiệm. Yêu cầu được cấp một số kinh phí thích đáng.
Kế hoạch về Việt Nam là một kế hoạch hoàn chỉnh, không thiếu sót, sơ hở một điều gì lại “Trúng ý” hoàn toàn với ý đồ “Hoa quân nhập việt” của Tưởng Giới Thạch, buộc Trương Phát Khuê phải chấp nhận, thỉnh thị cấp trên đồng ý cho Hồ Chí Minh về nước trước để đón “Hoa quân nhập việt”.

Thế là ngày 9 - 8 - 1944 Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn 18 thanh niên đã qua lớp huấn luyện đặc biệt, rời Liễu Châu về nước, qua Long Châu, Na Pha qua cửa khẩu Bình Mãng vào Việt Nam, trực tiếp lãnh đạo tổng khởi nghĩa tháng tám, thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (nay là cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Có thể thấy rằng việc thực hiện kế sách phản khách vị chủ lần này khó khăn hơn rất nhiều lần thực hiện ở Tĩnh Tây với Trương Bội Công nhưng nhờ nắm vững “địch tình”, “biết người, biết ta” mà tiến hành dần dần kế sách để đạt được kết quả cuối cùng: Việt Nam cách mạng đồng minh hội hoạt động theo hướng có lợi cho cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh dựa vào Việt Nam cách mạng đồng minh hội để trở về nước ở vào thời điểm rất cần có người để chèo lái cho con thuyền cách mạng Việt Nam vượt phong ba bão táp, đi tới thắng lợi cuối cùng.
2. Tá thi hoàn hồn (Mượn xác hoàn hồn)
Mượn xác hoàn hồn nguyên chỉ việc khiến cho cái đã chết mượn một hình thức nào đó xuất hiện. Khi vận dụng làm mưu kế thì có nghĩa là mượn cái bất tài hoặc cái không thể có tài lợi dụng nó, khống chế nó.
Trong lịch sử Trung Quốc Trịnh Trang Công mượn vương mệnh tấn công nước Tống; Tào Tháo mượn danh nghĩa phò thiên tử để sai khiến chư hầu; Lưu Bị tự xưng “Hoàng thúc” dựng cờ chính tông nhà Hán chống lại Tào Tháo, Tôn Quyền chia ba thiên hạ...
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng Tá thi hoàn hồn như thế nào?
Tháng 6 - 1940, trong cuộc họp với Bộ hải ngoại Đảng cộng sản Đông Dương ở Côn Minh Bác Hồ nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Đó là một quyết định hết sức đúng đắn và kịp thời nhưng để có thể về nước một cách dễ dàng phải có một tổ chức “danh chính”, hoạt động “Hợp pháp”. Lúc đầu ta định dựa vào tổ chức của Trương Bội Công để tìm đường về nước. Thế nhưng qua tìm hiểu thấy rõ Trương Bội Công xưa nay không có tinh thần cách mạng và cũng chưa tham gia tổ chức cách mạng nào. Hắn chỉ dựa vào thế lực của bọn Tưởng để mưu đồ cá nhân. Thực chất đó là một tên tay sai, một tên gián điệp của Tưởng Giới Thạch. Cần cắt đứt quan hệ với hắn. Bác Hồ đặt vấn đề: “Ta tách rời tổ chức của Trương Bội Công lên Quế Lâm thì phải nhân danh một tổ chức gì cho hợp pháp với bọn Tưởng “.

Thật là khó. Qua thảo luận bỗng loé lên một tia sáng. Số là, vào năm 1936, Cụ Hồ Học Lãm, một nhân vật thuộc lớp Đông Du cũ đã thành lập một tổ chức đặt tên là Việt Nam độc lập đồng minh hội, thành viên chính có Lê Thiết Hùng (sau là thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam); Nghiêm Kế Tổ ... Hội sinh hoạt ở Nam Kinh, xuất bản tờ Việt Thanh. Khi thành lập có báo cáo lên nhà đương cục Tưởng Giới Thạch. Giấy phép hoạt động hiện vẫn còn nhưng hội cứ tan dần, hầu như không hoạt động nữa, nay ta có thể dựa vào danh nghĩa của hội này để hoạt động. Bác Hồ chỉ thị: “Ta có thể lợi dụng tổ chức này. Nhưng phải nói thế nào để chúng không bắt bẻ được ta. Chúng ta báo cáo lên Biện Công Sảnh Đệ tứ chiến khu là tháng giêng năm 1936, ta thành lập Việt Nam độc lập đồng minh hội. Hội này hoạt động ở Trung Quốc một thời gian rồi chuyển về nước hoạt động. Bây giờ trong nước lại phái cán bộ ra để lập một bộ phận của hội, gọi là Việt Nam độc lập đồng minh hội, Hải ngoại Biện sự xứ. Chúng ta cử Cụ Hồ Học Lãm làm chủ nhiệm và Lâm Bá Kiệt (tức Phạm Văn Đồng) làm Phó chủ nhiệm. Làm như thế không những chúng ta hợp pháp hoá được tổ chức của chúng ta ở đây mà vấn đề quan trọng hơn là chúng ta còn có thể ở đây lâu dài, làm nhiều việc khác. Giữ được mối quan hệ giữa chúng ta với Trung Quốc, nhất là với Đệ tứ chiến khu, đề phòng việc “Hoa quân nhập Việt”. Làm thế nào khi chúng “Nhập Việt” chúng ta đã ở ngay trong nước và với danh nghĩa Việt Nam độc lập đồng minh Hội, chúng ta có thể đường hoàng buộc chúng phải nói chuyện với ta”. (Vũ Anh - Hồi ký Đầu nguồn, nhà xuất bản văn học - 1975).
Thực hiện đúng chỉ thị và “mưu kế” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một thời gian ngắn sau đó Việt Nam độc lập đồng minh hội, Hải ngoại biện sự xứ được chính quyền Tưởng Giới Thạch công nhận. Ta có một tổ chức “danh chính” để hoạt động và tìm đường về nước. Tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh hội, Hải ngoại biện sự xứ tồn tại lâu dài giúp ích rất nhiều cho cách mạng Việt Nam. ở trong nước việc thành lập mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) ngày 19 - 5 - 1941 đã được toan tính từ đây.
Đây thực sự là việc vận dụng sáng tạo, linh hoạt, kịp thời mưu kế Tá thi Hoàn hồn - mượn cái danh của tổ chức đã không hoạt động (xác), nhập “hồn” cách mạng vào để hoạt động công khai, “danh chính ngôn thuận”, theo chủ đích của ta và đã đạt được những kết quả to lớn, mỹ mãn. Việc vận dụng này hết sức mau lẹ, hoàn chỉnh, với những diễn giải rất có lý làm cho các nhà chức trách của Tưởng Giới Thạch không thể bắt bẻ, không thể từ chối. Vĩ đại là ở đấy, thiên tài là ở đấy.
3. Giả si bất điên (Giả ngốc mà không điên)
Nội dung kế này là: Thà giả vờ hồ đồ mà không làm, không tự cho là thông minh mà làm bậy. Phải trầm tĩnh không lộ hình sắc, như mây mù, sấm sét mùa đông mà vẫn ẩn tàng.

Giả vờ không biết nhưng thực tế lại biết rõ ràng, giả vờ không muốn làm, thực tế không thể làm được.
Trong lịch sử việc vận dụng kế giả si bất điên rất phong phú, sinh động. Thời Tam Quốc, Tư Mã ý giả vờ bệnh ốm để giết Tào Sảng. Thời Tống, Địch Thanh đem quân đánh Nùng Trí Cao, vờ xin quỷ thần, gieo 100 đồng tiền xin âm dương, khích lệ tinh thần binh sĩ mà phá được Nùng Trí Cao. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, một ký giả Mỹ đã đăng tải lên một tờ báo ở Chi ca gô toàn bộ kế hoạch tác chiến của Mỹ trước chiến dịch đảo Midway. Tổng thống Rossevelt lại làm ra vẻ hồ đồ không biết gì cả. Kết quả sự tình nhanh chóng bị dập tắt, tình báo Nhật không chú ý nên không có biện pháp gì đối phó. Quân Mỹ tiến hành chiến dịch đảo Midway một cách thuận lợi.
Trong những ví dụ về vận dụng kế sách Giả si bất điên thì ví dụ về Tôn Tẫn giả điên là nổi tiếng nhất.
Trong thời Chiến quốc Tôn Tẫn và Bàng Quyên đều là học trò của Quỷ Cốc Tử, cùng học binh pháp, bái nhau làm huynh đệ. Tôn Tẫn là người trung thành, đôn hậu còn Bàng Quyên là kẻ khắc bạc, vô ơn.
Khi đã học thành tài Bàng Quyên xin sư phụ xuống núi đến nước Nguỵ, được Nguỵ Huệ Vương bái làm quân sư, cầm quân đánh Đông dẹp Bắc, lập nhiều công lớn.
Về sau Tôn Tẫn cũng đến nước Nguỵ. Bàng Quyên biết Tôn Tẫn đến nước Nguỵ tất được vua sủng ái bèn tìm cách kiềm chế, nói với vua rằng tạm phong cho Tôn Tẫn làm khách Khanh, khi nào lập công to thì Bàng Quyên sẽ nhường chức.
Trong thời gian Tôn Tẫn làm khác Khanh, Bàng Quên lập mưu hãm hại Tôn Tẫn. Vua nghe lời Bàng Quyên cho rằng Tôn Tẫn phản bội Nguỵ theo Tề, đáng tội chết. Bàng Quyên “rủ lòng thương” xin vua chỉ chặt xương bách chè Tôn Tẫn và thích vào mặt bốn chữ “Tư thông ngoại quốc”. Hạ độc xong, Bàng Quyên diễn trò mèo khóc chuột, sai người đem Tôn Tẫn về thư phòng bó thuốc. Tôn Tẫn mắc bẫy, cảm kích Bàng Quyên và đồng ý chép lại Tôn Tử binh pháp cho Bàng Quyên.
Về sau, tình cờ Tôn Tẫn biết được sự thực vấn đề, bèn nghĩ cách thoát thân, bỗng nhớ chiếc túi gấm thầy Quỷ Cốc trao, liền mở ra xem, thấy trên mảnh lụa vàng biết ba chữ “Trá Phong Quỉ” (Vờ điên). Tôn Tẫn đã diễn vở kịch vờ điên đạt đến mức Bàng Quyên không cần phải lo nghĩ, đề phòng, giám sát nữa, do đó mà Tôn Tẫn đã trốn thoát về nước Tề. Về sau khi hai nước Triệu và Ngụy đánh nhau, Tôn Tẫn dùng kế “Vây Nguỵ, cứu Triệu” đánh bại Bàng Quyên. Trong chiến dịch Hàn - Nguỵ, Tôn Tẫn lại dùng kế “Tăng binh, giảm táo” lừa cho Bàng Quyên vào Mã Lăng rồi bắn chết.
Có một ví dụ về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng kế Giả Si bất điên mà nhiều người hay kể.
“Một ngày giữa tháng 8 - 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khu căn cứ địa Lam Sơn (huyện Hoà An) trở lại Pác Bó để đi Trung Quốc. Lần này người không đi đường mòn, đường rừng mà công khai đi trên đường cái giữa ban ngày. Người đóng vai một ông thầy cúng vừa ngớ ngẩn, bẩn, điếc, người dẫn đường là Phù Sấn, người Nùng, quê Đào Ngạn (Hà Quảng) đóng vai người đi đón thầy cúng về cúng cho mẹ vợ bị ốm. Khi đến ngã ba Đôn Chương (cách Pác Bó chừng 7 km), hai người lững thững đi qua trước trạm gác của địch. Bất ngờ một tên lính xô ra chặn lại:
- Bọn này đi đâu?
“Ông thày cúng” chỉ vào tai, lắc đầu. “Anh người nhà” mau miệng trả lời:
- Mời thày cúng về cúng cho mẹ vợ ốm đây mà.
- Cúng với bái. Đưa tao xem trong gánh có những gì nào hay là lại toàn truyền đơn cộng sản.
Nó giằng lấy cái gánh trên vai Phù Sấn lục soát. Đã có sự chuẩn bị trước nên hành lý hôm ấy được sắp xếp hoàn toàn giống của một ông thày cúng: Một bên là khẩu mạ, có cụm thóc nếp, một bên là khẩu hương, có một bát đựng gạo làm bát hương với một con gà chích bằng nắm tay. Ngoài ra là sách cúng với đồ lễ lặt vặt.
Thấy không có gì khả nghi, tên lính gác cho hai người qua trạm, nhưng thằng xã đoàn Tòng nghe nói có thầy cúng, bèn gọi giật lại.
- Thầy cúng hả? Vợ tao đang ốm ở nhà, may quá lại cúng cho vợ tao cái đã rồi hãy đi.
Thật là tiến thoái lưỡng nan. Phù Sấn quay lại nhìn “Ông thầy cúng” như xin chỉ thị. Ông thầy cúng vẫn không có gì hốt hoảng, tiến lại gần xã đoàn Tòng, loạng choạng va cả vào người hắn, nhe hai hàm răng đen, bẩn cười nhăn nhở - dáng vẻ của một người vừa câm, vừa điếc, vừa bẩn.
Phù Sấn nhanh trí, biết vai kịch đã bắt đầu biến hoá, tự nhiên nhập vai, quay lại nhìn ông thầy cúng lầu bà, lầu bầu:
- Gớm cái ông thầy vừa điếc, vừa ngớ ngẩn này uống chưa hết hai chén rượu mà đã say điên, say đảo như thế.

Xã đoàn Tòng nhìn dáng điệu của ông thầy cúng điếc tai, say rượu như thế quá ngán, chả thiết nhờ cúng bái làm gì nữa, cho phép đi. Hai người lại rảo bước trên đường về Pác Bó.
Về đến địa điểm an toàn, trong khi Phù Sấn đang toát mồ hôi diễn lại vở kịch cho mọi người xem thì “Ông thầy cúng” có hai hàm răng đen, bẩn dùng một ngón tay vuốt mạnh vào răng, cơm nếp nát trộn với bột than củi miết vào răng giờ đã khô, bong ra”. (Dương Đại Lâm: Bác Hồ đến bản tôi - Hồi ký, Đầu nguồn - Nhà xuất bản văn học - 1975).
Đây thực ra chỉ là một tình huống Giả si bất điên để thoát khỏi tay giặc - một tình huống đã được chuẩn bị, trù tính kỹ càng. Đó là việc: giả vờ không muốn làm, thực tế không thể làm được. Thật vậy việc cúng bái, “Ông thày cúng giả” không thể làm được (nhất là phải cúng bằng tiếng Tày - Nùng), nên ông thày cúng phải giả làm người điếc, ngớ ngẩn, bẩn thỉu, không muốn làm (cúng). Do có sự chuẩn bị kỹ và bình tĩnh nên việc “vào vai” rất đạt, Thoát hiểm trong gang tấc.n
4. Man Thiên Quá Hải (Dối trời qua biển)
Nội dung của kế này là nhân lúc kẻ địch sơ hở, không phòng bị mà mau lẹ hành động đạt lấy kết quả. Câu chuyện Bác Hồ về nước từ làng Nặm Quang ngày 28-1-1941 (tức ngày mùng 2 Tết Tân Tỵ) là một dẫn chứng sinh động cho việc dùng kế sách này.
Hãy trở lại lịch sử những ngày trước 28-1 ít ngày. ấy là những ngày tháng Chạp năm Canh Thìn, sau khi đưa được 40 thanh niên Cao Bằng đang “nương nhờ” Trương Bội công về làng Nặm Quang, Bác Hồ đã mở lớp huấn luyện quân sự tại đây.
Nặm Quang là một ngôi làng nhỏ, nghèo khó và heo hút có mười mấy ngôi nhà – cách biên giới Việt - Trung 7km, cách chợ Cọt Mà 5km. 40 thanh niên Cao Bằng được “rút” về đây chia ra ở nhờ nhà dân của hai làng Nặm Quang, Ngàm Tảy (cách nhau 1km) đã được Bác Hồ và các đồng chí Lâm Bá Kiệt (tức Phạm Văn Đồng), Dương Hoài Nam (Võ Nguyên Giáp), đồng chí Nhã (Phùng Chí Kiên) tổ chức giảng dạy, huấn luyện trong một khóa học ngắn ngày (khoảng 7, 8 ngày). Sau này, 40 học viên này được ví là 40 con đại bàng tung cánh bay trong bão tố cách mạng, lập được nhiều chiến công, góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Lớp huấn luyện kết thúc vào ngày 28 tháng Chạp âm lịch (đầu năm 1941). Hôm sau các đồng chí Lâm Bá Kiệt và Dương Hoài Nam trở về Tịnh Tây để giữ liên lạc với các lực lượng cách mạng ở ngoài nước. Một số anh em người Hòa An chia thành từng nhóm nhỏ về nước ăn tết với gia đình. Bác Hồ chỉ giữ lại vài đồng chí ở lại với mình ở làng Nặm Quang. Ngày 30 tết Thế An được giao nhiệm vụ về Pác Bó nắm tình hình. Ngày mùng một tết Bác Hồ ăn tết với gia đình trưởng bản Hứa Gia Khởi. Trong hồi ký NHữNG NGàY SốNG GầN BáC, đồng chí Vũ Anh đã kể rất rõ ngày mùng một tết Tân Tỵ: “Theo phong tục ở địa phương, chúng tôi chia nhau đi ăn tết khắp mọi nhà trong bản. Nhân dân sẵn có cảm tình với cách mạng Việt Nam, thấy chúng tôi nghiêm chỉnh, đứng đắn, thái độ hòa nhã, tôn trọng họ cho nên họ càng quý mến.
Bác đi thăm các gia đình với chúng tôi. Trông Bác mặc bộ quần áo người Nùng màu chàm, đầu vấn khăn, nhanh nhẹn đi vào các nhà trong bản, tôi bỗng nhớ hình ảnh của Bác ngày nào đóng vai một ông khách sang trọng mặc complet, cổ cồn, cà vạt, giày da vào hiệu Vĩnh An Đường. Sự hòa hợp của Bác với mọi hoàn cảnh thật mau lẹ, nhẹ nhàng.
Đến mỗi nhà Bác đều tặng cho một phong bao màu hồng điều viết chữ Trung Quốc thật to: Cung chúc tân xuân (Chúc mừng năm mới). Tuy Bác chỉ vào mỗi nhà một lát, nhưng nhà nào cũng lưu luyến, cũng muốn giữ Bác ở lại.
Ngày mùng một tết qua đi. Thế An từ Pác Bó trở về báo cáo tình hình Pác Bó và các làng bản quanh vùng mọi người đang “say sưa” ăn tết, lính tráng các đồn phần đông được về nhà. Số còn lại canh giữ đồn thì say sưa rượu chè. Bác bảo: “Cứ ở lại ăn tết xong đã”.
Ngày mùng hai tết, Bác cùng anh em đi chúc tết. Thế An được lệnh mang tất cả đồ đạc tư trang của mọi người ra đầu làng. Đoàn người đi chúc tết dềnh dàng đến trưa, đúng vào giờ ăn trưa thì rời nhà cuối cùng ở lẻ ngoài bìa rừng. Bác Hồ phát lệnh: Lên đường! Đoàn trở về có 6 người: Đồng chí Lê Quảng Ba đi trước, tiếp theo là đồng chí Phùng Chí Kiên rồi đến Bác. Sau Bác là đồng chí Hoàng Văn Lộc và Thế An, sau cùng là đồng chí Đặng Văn Cáp (còn mải hái lá rừng về làm thuốc). Tất cả đi trong lặng lẽ, vừa đi vừa quan sát, canh chừng. Đi khoảng hai tiếng đồng hồ thì đến cột mốc 108 an toàn, không bị ai “tra xét”, “thăm hỏi”. Lúc đó mặt trời đã ngả về Tây. Nhà thơ Tố Hữu sau này “tưởng tượng” phút giây ấy thật sinh động:
Ôi! Sáng xuân nay, xuân bốn mốt
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về, im lặng... con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ!
Nhờ chuẩn bị kỹ lưỡng, tính toán chính xác cho nên Bác Hồ đã chọn đúng thời điểm mọi người vui vẻ, say sưa ăn tết, ít ai để ý nhất để rời Nặm Quang trở về, sau khi đã tạo ra một vài động tác giả, hiện trường giả. Nguyên tắc bí mật buộc phải thế. Cứ phải hư hư, thực thực. Chọn đúng thời điểm để Man Thiên Quá Hải. Bác đã về đến Pác Bó an toàn và cũng từ đó Pác Bó trở nên Thơ hơn, linh thiêng hơn. Ngày 28/1/1941 (tức ngày mùng hai tết Tân Tỵ) được ghi vào lịch sử như thế.
5. Thượng thụ khai hoa (Hoa nở trên cây)
Kế sách “Thượng thụ khai hoa” (Hoa nở trên cây) là kế mê hoặc kẻ địch. Trên cây vốn không có hoa, sau khi nguỵ trang tinh tế thì nhìn qua tựa như có hoa. Dùng kế này vào việc quân là nguỵ trang khiến quân ta có vẻ hùng cường.
ở Pác Bó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng kế “Hoa nở trên cây”, ít nhất hai lần. Đạt kết quả mỹ mãn.
Lần thứ nhất là vào cuối tháng 6, đầu tháng 7 năm 1941. Thời gian này, Bác và các đồng chí của mình “triển khai” nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ tám, tập trung xây dựng, củng cố lực lượng Việt Minh vốn đang còn ít và yếu. Trong tình hình ấy, Đệ tứ chiến khu của quân Tưởng Giới Thạch đề nghị cho người của họ vào khu căn cứ của ta để “bàn kế hoạch hợp tác chống Nhật”. Một số đồng chí cán bộ ta không muốn cho đại diện của Tưởng vào vì sợ “lộ bí mật” và vì lực lượng ta còn “chưa có gì”. Sự việc được báo cáo lên Bác Hồ. Bác nói: “Ta không cho nó vào nó vẫn cứ vào, chi bằng ta tương kế, tựu kế. Lực lượng Việt Minh hiện nay chưa đủ mạnh, phát triển chưa đồng đều, hoạt động bí mật là chính nhưng ta phải làm thế nào cho nó thấy: Lực lượng Việt Minh đã đủ lớn, đủ mạnh đánh đuổi giặc Nhật”. Dừng một lát Bác chỉ tay lên cây Mạy Mạ trước lán Khuổi Nặm, nói một cách hình tượng: “Cây Mạy Mạ đã hết mùa hoa, nhưng ta có thể khiến nó nở hoa bằng cách nhân tạo. Cắt hoa giấy nhiều màu dán lên cành cây, ai không xem kỹ thì không phát giác được. Cây thật, hoa giả tạo thành một cảnh tươi đẹp. Trên cây không có hoa thì ta nguỵ trang khéo, nhìn qua như có hoa. Cũng như lực lượng ta chưa đủ lớn, chưa đủ mạnh nhưng ta phải làm ra lực lượng ta hùng mạnh. Đất ta kiểm soát còn ít, ta phải làm sao cho nó thấy đất ta rộng”. Rồi Bác bày cách thực hiện: “Đại diện của Tưởng vào, ta đưa nó đi lòng vòng vào ban đêm, cho nó leo thật nhiều đèo dốc, cho người nó tã ra. Nó phải chắp tay vái lạy”.
Thực hiện kế sách này, các đồng chí Lê Quảng Ba, Vũ Anh, Võ Nguyên Giáp, Dương Đại Lâm đã đưa đại diện của Đệ Tứ chiến khu là Lục Thượng Hiệu (Thượng tá họ Lục) đi lòng vòng nhiều địa điểm đã được chuẩn bị sẵn, dàn dựng, biểu dương lực lượng. Ngày ngủ đêm đi, đi đến đêm thứ tám, người Lục Thượng Hiệu tã ra như rẻ rách, đôi giày rách bươm, quần áo không kịp thay, nhiều lúc đi như lết. Lục Thượng Hiệu vái lạy, xin về, sau khi viết một báo cáo dài gần 50 trang “trình” các cán bộ Việt Minh, nhấn đi, nhấn lại ý chính: “Đi 18 ngày đêm, qua nhiều tỉnh của Việt Nam đến đâu cũng được quần chúng đón chào nồng nhiệt, cũng thấy khí thế cách mạng lên cao. Quân du kích Việt Minh rất có kỷ luật và được huấn luyện rất tốt có trang bị tốt, Việt Minh hiện nắm trên 80 phần trăm dân chúng trên một vùng lãnh thổ rộng lớn. Nếu Trung Quốc muốn hành động có kết quả ở Việt Nam nhất định phải liên hệ, cộng tác và dựa vào lực lượng lớn mạnh của Việt Minh”.
Khá khen Lục Thượng Hiệu có trí tưởng tượng phong phú và khả năng phóng đại phi thường sau khi ngấm đòn “hoa nở trên cây”.
Lần thứ hai Bác Hồ dùng kế sách này là vào tháng 10/1944. Số là vào cuối tháng 9 một máy bay của không quân Mỹ, bay trên bầu trời Cao Bằng bị hỏng máy, phi công nhảy dù xuống cánh đồng Bản Ngần (cách thị xã Cao Bằng 3km). Việt Minh đã nhanh chóng “đón tiếp” và đưa viên phi công tránh lên núi rồi báo cáo lên Bác Hồ ở Pác Bó. Bác Hồ chỉ thị đưa viên phi công lên Pác Bó theo kiểu lòng vòng! Vì thế đoạn đường từ thị xã Cao Bằng lên Pác Bó dài 60km mà viên phi công đi mất gần một tháng, “đủ thời gian” mục sở thị sự lớn mạnh của Việt Minh. Về tới Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) viên phi công Mỹ thuộc không đoàn số 14 (tên là Uy Liêm Sao) “trình” lên trung tướng tư lệnh Clai Sê Non một bản báo cáo “hoàn hảo” có đoạn: “Việt Minh hùng mạnh như thế nào, tôi không biết. Nhưng như những gì tôi được chứng kiến thì tổ chức này rất được nhân dân ủng hộ. Đi đến đâu tôi cũng được dân làng chào với hai tiếng “Đồng Minh” “Đồng Minh” và họ làm tất cả để giúp những người yêu nước cho dù họ có bị ngăn cấm và đàn áp.
Tháng 12 những người bạn Đông Dương đã đưa tôi trở về Trung Quốc. Trước khi chia tay họ dặn đi dặn lại tôi phải gửi lời chào tốt đẹp nhất của họ tới quân đội và nhân dân Mỹ. Lần bắt tay cuối cùng họ hô to: “Hoa kỳ muôn năm” “Roosevelt muôn năm! Tướng Chenault muôn năm!” và tôi hô đáp lại “Đông Dương muôn năm!” tôi rất vui khi được quay trở lại và kể với đất nước tôi và những đồng minh của nó về tình hình thực tế ở Đông Dương.
Tôi khiêm nhường nghĩ rằng, vì nhiệm vụ dân chủ cũng như vì lợi ích chiến lược chúng ta phải giúp đỡ phong trào chống Nhật chống phát xít của Đông Dương một cách có hiệu quả”.
*
Bàn về chủ đề Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng Tôn Tử binh pháp và tam thập lục kế không chỉ có vậy. Còn rất nhiều câu chuyện hay tôi mong có dịp sẽ được tiếp tục trình bày (như các kế Rút củi đáy nồi, Vây Ngụy cứu Triệu, Điệu hổ ly sơn, Tẩu Vi Thượng,...). Có thể viết hẳn một chuyên luận chuyên sâu cũng không có gì là quá. Những thu hoạch mà tôi trình bày ở đây chỉ là những nhận xét rất sơ lược, những nhận xét bước đầu, hướng tới một nhận định: Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là nhà lý luận vừa là nhà thực hành, đã dịch, tóm tắt trước tác Tôn Tử binh pháp, không chỉ để dùng vào mục đích quân sự mà còn dùng trong rất nhiều lĩnh vực khác như ngoại giao, kinh tế, chính trị, văn hóa... Chính vì thế khi vừa từ Liễu Châu trở về Pác Bó Người đã tặng cho cháu gái nuôi yêu quý của mình - Cháu Nông Thị Trưng - bản dịch Cách dùng binh của ông Tôn Tử chép trong một quyển vở học sinh với lời đề tặng yêu thương và đầy ý nghĩa:

Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu ra công mà học tập
Mai sau cháu giúp nước non nhà

“Mai sau cháu giúp nước non nhà” - Lòng mong mỏi của lãnh tụ thật sâu sắc - không chỉ lo cho trước mắt để đánh địch mà chủ yếu để mai sau, khi nước nhà độc lập. Những kiến thức của Tôn Tử binh pháp sẽ giúp rất nhiều cho việc xây dựng tổ quốc. Và không quên lời nhắn đó sau ngày đọc Tuyên ngôn độc lập ở Quảng Trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho đồng chí Đặng Văn Cáp từ Hà Nội lên Cao Bằng đón cháu gái Nông Thị Trưng về Hà Nội. Đời và cách mạng huyền bí làm sao.
Kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ rời bến Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước (1911 - 2011), 70 năm ngày Bác Hồ về nước (1941 - 2011) lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thêm một lần chúng ta nhìn lại cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian nguy, biến động với một tinh thần yêu nước, yêu dân nồng nàn, lòng quyết tâm sắt đá của một bậc vĩ nhân, một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng - Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Chúng ta đã nói nhiều tới chữ Nhân trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Chúng ta cũng đã nói tới chữ Dũng khi kể về những tháng năm cam go nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để có thể chiến thắng số phận và hoàn cảnh nhưng còn chữ Trí - một chữ Trí hiểu theo nghĩa rộng, lấp lánh và sâu sắc thì dường như vẫn đang còn là môt vùng đất, một miền sáng mà chúng ta vừa mới như bắt đầu nhập vào... “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không...” vẫn là điều chúng ta luôn tự hỏi với nỗi ám ảnh để hướng tới tương lai mà điều kiện quan trọng để đạt được điều đó là ở chữ Trí. Kể một vài mẩu chuyện về việc Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng Tôn Tử Binh pháp và Tam thập lục kế như là một cách đặt vấn đề về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh với những nội dung mới để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, tạo dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Cao Bằng, 4/2011
Hoàng Quảng Uyên (http://vanvn.net)


Share:

TÌM KIẾM

ĐỒNG HỒ

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM

  • SỐ LƯỢNG BÀI VIẾT
  • SỐ LƯỢNG BÌNH LUẬN
  • SỐ LƯỢNG NGƯỜI XEM

ĐANG GHÉ THĂM

Người theo dõi