ĐUỐC MỒI
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học - Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khoa học - Giáo dục. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2018
Thứ Sáu, 22 tháng 6, 2018
HỒ QUÝ LY, HOÀNG ĐẾ SINH SỚM THỜI ĐẠI
UnknownThứ Sáu, tháng 6 22, 2018Chính trị, Khoa học - Giáo dục, Văn hóa - Xã hội
Không có nhận xét nào
DŨNG PHAN
Từ thành phố Thanh Hóa, đi theo quốc lộ 45, chúng ta sẽ đi vào huyện Vĩnh Lộc. Nơi ấy, có một di tích lịch sử vẫn còn để lại cho đến hôm nay: đời sau gọi là “Thành nhà Hồ”. Nhưng, nếu ai có chút hiểu biết về lịch sử và kiến trúc của một tòa thành thời xưa, thì những gì còn sót lại hôm nay không thể gọi là “thành nhà Hồ”, mà chỉ có thể gọi là “Cổng tường thành nhà Hồ.” Phải, đây chỉ là cổng Nam đi vào trong thành nhà Hồ mà thôi. Nơi mà thiên tài khoa học Hồ Nguyên Trừng đã xây dựng nên trong vòng 3 tháng. Còn thành nhà Hồ ở đâu? Đấy chính là cánh đồng hoang vu, cỏ mọc dại và những con trâu đang găm cỏ ở phía trong. Hơn 600 năm trước, những bãi cỏ ấy mới chính là Thành nhà Hồ, với Tử Cấm Thành nằm ngay chính giữa. Đấy là nơi hoàng đế nước Đại Ngu tên là Hồ Quý Ly thượng triều.
Câu hỏi đặt ra: vì sao nơi này chỉ còn là phế tích cô liêu đến như vậy? Tử Cấm Thành nơi nào? Cung điện nơi nào? Và các tòa lầu nơi hoàng hậu, cung nữ ở, đã đi đâu rồi? Xin trả lời: ngày giặc Minh tràn vào nước ta, vua tôi Đại Ngu đã thất bại, nên giặc Minh đã đập phá hết nơi này. Khách thập phương đến thăm hôm nay, chỉ còn thấy hai con rồng đá trên bậc thang tàn tích, tượng trưng cho một thời đã có một vị hoàng đế ngồi ở đấy, còn lại tất cả mọi thứ đã mất. Cô liêu như chính vị hoàng đế ấy trong lịch sử Việt Nam, một người đi giữa sự phủ nhận của hậu thế, một người chứa quá nhiều những cải cách vượt tầm thời đại, cùng một lịch sử là bài học của tiền nhân rõ rệt trên từng khung hình cuộc đời. Tên của vị hoàng đế ấy chính là Hồ Quý Ly.
Tháng 2 năm 1400, một vị quyền thần có tên là Lê Quý Ly đã bức vị vua cuối cùng của thời đại Đông A anh hùng xuống khỏi ngai vàng: vua Trần Thiếu Đế. Ngài tự mình lên làm vua, đổi sang họ Hồ, đặt niên hiệu Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu, nhà Hồ chính thức thay nhà Trần. Và vị hoàng đế Hồ Quý Ly, với khát vọng “xốc” lại một đất nước Việt Nam đang lâm vào khủng hoảng giai đoạn cuối triều Trần, đã tiến hành những cải cách mang tính triệt để nhất. Như đã biết, triều Trần là một triều đại anh hùng với ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông, nhưng cũng là một triều đại nhiều tai tiếng nhất lịch sử Việt Nam. Chẳng hạn như với việc kết hôn cận huyết, thì đây là triều đại có những mối tình loạn luân lớn nhất lịch sử. Còn chính sách phân chia ruộng đất cho các quý tộc Trần, sở hữu các quyền lợi địa chủ, với việc sống trong những thái ấp riêng, đó lại chính là một “con dao hai lưỡi”. Trong thời chiến, việc bảo vệ quyền lợi bản thân trước sự xâm lăng của ngoại bang, cũng giúp tạo nên tinh thần bảo vệ đất nước. Tuy vậy, trong thời bình, đó chính là nguyên nhân của thói xa hoa, tham nhũng và hút máu nhân dân.
Hồ Quý Ly khi lên đã nhìn thấy điều đó, và để chia nhỏ thế lực của giới quý tộc, đưa ruộng đất trở lại với người dân để kích thích sự phát triển kinh tế. Hồ Quý Ly ban hành chính sách “hạn điền” (giảm số ruộng). Ông cho làm lại sổ ruộng đất, sung công hàng loạt ruộng đất vô chủ, vô thừa nhận hay quá hạn. Điều này giúp giảm số ruộng tư, hạn chế thế lực và đất đai của các địa chủ lớn. Đi cùng với “hạn điền” chính là “hạn nô” (giảm số nô lệ), đấy là việc ban hành chính sách mới khi đưa hàng loạt nô lệ của những quý tộc Trần đi ra cuộc sống, giảm mạnh số nô lệ ở các thái ấp của những quý tộc nhà Trần, và tránh việc sung vào trong nội bộ các địa chủ địa phương thêm những nô lệ mới. Ngoài ra đó là việc đào tạo nhân tài rộng khắp, không kể xuất xứ, khác với triều Trần chỉ ưu tiên cho con cháu quý tộc.
“Hạn điền” và “Hạn nô” đã giúp cho nhà nước có thêm ruộng đất công và các nhân lực tự do, tạo nền tảng kinh tế, xã hội mới, qua đó đánh sập những tàn dư hủ bại của triều đại cũ. Tuy nhiên, đây chính là nguyên nhân trực tiếp cho việc họ Hồ khi lên ngôi mất đi sự ủng hộ của các tầng lớp quý tộc và thế tộc có tiếng nói trong lòng nhân dân, khiến cho Hồ Quý Ly sẽ không nhận được sự ủng hộ của người dân trong cuộc chiến với quân Minh. Đội quân đã tràn vào Đại Việt với sự dẫn đường của một người phía nhà Trần: Trần Thiêm Bình.
Hồ Quý Ly còn tiến hành các cải cách vượt tầm thời đại khác. Trong đó đặc biệt là ở giáo dục và y tế. Trong cái thời mà trí thức đất nước được thể hiện qua việc đưa ra những câu đối và “anh đã đối, mời chú đối lại” - sinh ra một nền kinh tế nông nghiệp với những nhà Nho sống mọt sách, thiếu thực tiễn, thì Hồ Quý Ly đã đưa toán học vào trong thi cử. Sự xuất hiện của Toán học trong giáo dục Việt Nam thế kỷ 15, chính đã giúp phát hiện ra những nhân tài ở mảng khoa học kỹ thuật như Kiến trúc sư Nguyễn An (người sau này là một trong những kiến trúc sư trưởng xây Tử Cấm Thành Bắc Kinh), hay ở chính người con trai cả của ông: Hồ Nguyên Trừng, một thiên tài toàn năng của lịch sử dân tộc Việt. Hồ Nguyên Trừng khi không chỉ là nhà thơ, nhà văn, kiến trúc sư, nhà bác học đã sáng tạo nên thuyền cổ lâu (thuyền chiến hai tầng) và súng thần công, mà còn là nhà chính trị lỗi lạc với câu nói nổi tiếng “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo.” Cải cách y tế, Hồ Quý Ly lập ra các y tì để coi sóc việc thuốc thang (một dạng bệnh viện như ngày nay). Đặc biệt, đã đưa tiền giấy vào sử dụng sớm trước 500 năm. Hôm nay nhìn về, những cải cách của Hồ Quý Ly thật sự là chấn động.
Những cải cách có tính sâu rộng của Hồ Quý Ly đã lật ngược lại cả một xã hội phong kiến, khiến cho “nợ máu” của Hồ Quý Ly không đơn thuần chỉ là 370 mạng người trong cuộc binh biến thất bại của thượng tướng quân Trần Khát Chân. Mà đấy là một mâu thuẫn có tính xã hội, thời đại. Chúng âm ỉ, có tính phá hoại, để rồi sinh ra một tầng lớp chính những người Việt đã để cái ích kỷ cá nhân đặt cao hơn sự tồn vong của dân tộc. Đất nước rơi vào tay nhà Minh không chỉ lỗi ở Hồ Quý Ly như sử sách đã nói sau này, mà còn do những quý tộc Trần thời mạt vận. Phải mãi cho đến đời sau, nhìn lại Hồ Quý Ly cùng các cải cách của ông, khi đối chiếu với chính xã hội hiện đại, ta mới có thể nhìn ra được cái tầm vóc vĩ đại của ông. Còn trong lăng kính của thời phong kiến, ông chỉ là tội đồ. Nhà Hồ không có lòng dân không phải vì nhà Hồ không nghĩ cho dân, mà vì dân không hiểu những cải tổ của nhà Hồ. Đấy cũng là cái bi kịch của Hồ Quý Ly trong mộng ảo và sự vội vã cải cách.
Ông là một vị vua cải cách không gặp thời.
Năm 1407, cha con Hồ Quý Ly thất bại trong việc chống trả lại cuộc xâm lăng của nhà Minh. Vậy là nhà Hồ diệt vong sau 7 năm trị vì ngắn ngủi. Đất nước bước vào thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ 4. Cũng trong năm 1407 đó, Hồ Quý Ly mất ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Nơi đất khách quê người, ngài mang theo một bi kịch và sự thống hận đi xuống cửu tuyền. Hồ Quý Ly là một thiên tài, chứ không nên nhìn mãi trong lăng kính khắt khe như một nhà vua thất bại. Nhưng cái tài của ông đã không gặp thời, đã để sai thời điểm. Hậu thế nhìn lại những điều mà bậc tiền nhân vĩ đại mà không gặp thời kia thực hiện, để lấy chính bài học cho chính hôm nay. Một mục tiêu tốt, cần thực hiện với một lộ trình đầy đủ, tuần tự và không gấp rút, vì điều này có thể gây xáo động xã hội. Và quan trọng hơn, cải cách tốt nhưng cũng cần có sự hợp thời ở trong đó. Vào cái giai đoạn Đông Nam Á và Đông Á bị phủ bóng bởi nền văn minh Nho Gia vĩ đại ở Trung Hoa. Đôi khi không phải khi nào “ngược sóng” cũng có thể mang đến những điều tốt đẹp, mà có khi còn đánh đổi bằng một bi kịch lớn lao hơn.
Tuy nhiên, không phải khi nào bị động cũng sẽ giữ được đất nước. Ngược lại, luôn cần những người cải cách như Hồ Quý Ly xuất hiện, và vấn đề phải là những cuộc cách mạng đúng lúc, đúng thời điểm, chuyện vua Minh Mạng của thế kỷ 18, 19 là bài học như thế. Đấy là một ví dụ khác cũng là vấn đề sai thời điểm, nhưng theo cách trái ngược với Hồ Quý Ly.
(Dũng Phan)
Mọi liên hệ với tác giả Dũng Phan
//
Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018
TẠI SAO QUANG TRUNG ĐÒI LƯỠNG QUẢNG?
Đã bao giờ bạn tự hỏi điều đó?
Có bao giờ bạn đặt ra câu hỏi đó không?
Lịch sử hãy biết đặt câu hỏi, và bạn có thể hiểu nhiều hơn những gì bạn đã có và đang có.
Để hiểu tại sao hoàng đế Quang Trung đòi Lưỡng Quảng chứ không phải đòi Vân Nam, đòi Bắc Kinh. Ta phải lùi lại trước đó 2000 năm.
Năm 257 TCN.
Một nhân vật đến giờ còn gây tranh cãi sẽ xuất hiện ở đây với các bạn hôm nay, đấy là Triệu Đà. Có thực Triệu Đà là giặc? Ông là giặc hay là tổ tiên của chúng ta.
Những gì tôi nói đến sau đây, sẽ tùy vào lăng kính mỗi người, không ép buộc.
//
Người trẻ Việt Nam được học bài đầu tiên về lịch sử nước Nam. Đầu tiên là những câu chuyện về Hồng Bàng, Kinh Dương Vương, Âu Cơ - Lạc Long Quân, rồi đến các vua Hùng. Sau câu chuyện về Vua Hùng sẽ là câu chuyện Mỵ Châu - Trọng Thủy. Nơi ấy có thành Cổ Loa, có nước Âu Lạc, có Thục Phán An Dương Vương
"Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Đến nỗi cơ đồ đắm biển sâu".
- Thơ Tố Hữu
"Giặc" trong thơ Tố Hữu chính là Triệu Đà. Triệu Đà đã chiến thắng An Dương Vương, qua đó sáp nhập Âu Lạc vào Nam Việt.
Những gì các bạn đang thấy chính là nước Nam Việt. Hãy xem bản đồ đó và bạn sẽ thấy nước Nam Việt bao gồm những gì: Quảng Đông, Quảng Tây, và miền Bắc Việt Nam bây giờ.
Sử gia Việt Nam trong vòng 2000 năm cho tới thập kỷ 60 của thế kỷ 20 tất cả đều công nhận Triệu Đà. Người công nhận Triệu Đà không phải là người mà các bạn ở đây có quyền chửi bới. Người công nhận Triệu Đà chính là Nguyễn Trãi qua bản Bình Ngô Đại Cáo
"Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nên độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương."
Đinh là ai? Đinh Bộ Lĩnh, Lý là ai? Lý Công Uẩn, Trần là ai? Trần Cảnh - Trần Thủ Độ. Vậy Triệu là ai thế?
Đấy là Triệu Đà.
Bộ Đại Việt sử ký soạn bởi Lê Văn Hưu cũng chép từ Triệu Vũ Đế đến Lý Chiêu Hoàng. Đại Việt sử ký chép lại:
"Triệu Vũ Đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước Việt ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy. Người làm vua nước Việt sau này nếu biết bắt chước Vũ Đế mà giữ vững bờ cõi, thiết lập việc quân quốc, giao thiệp với láng giềng phải đạo, giữ ngôi bằng nhân, thì gìn giữ bờ cõi được lâu dài, người phương Bắc không thể lại ngấp nghé được"
Ngay cả bây giờ, dù sử gia có chép Triệu Đà là giặc. Đền thờ ông vẫn xuất hiện ở một số tỉnh ở miền Bắc. Những bạn đọc bài viết này có đền gần đấy có thể xác nhận.
Giặc hay là tổ tiên?
//
Tiếp tục, năm 111, Nhà Triệu diệt vong, toàn bộ lãnh thổ Nam Việt thuộc về Nhà Hán. Đất Lưỡng Quảng lúc này nằm trong quận Giao Chỉ.
Bạn nghe rõ rồi chứ. Giao Chỉ của các đời Đường, Tùy...vẫn bao gồm cả Quảng Đông lẫn Quảng Tây. Sau này, những Hai Bà Trưng, Lý Bí, Triệu Quang Phục ... dựng cờ khởi nghĩa trong khoảng 1000 năm Bắc Thuộc chính là lấy lại Nam Việt ngày nào. Bạn không tin? Năm 43, Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa, một lực lượng đi theo bà chính là cư dân vùng Hợp Phố - Trung Quốc.
Văn Lang là tập hợp những bộ lạc, Âu Lạc vẫn còn manh mún. Tại sao nước ta 1000 năm vẫn quyết phản kháng? Ngoài văn hóa và con người Giao Chỉ - Việt Nam xưa nay. Có phải cũng vì một đế chế nữa tạo lập nên cho dân vùng đó một sự quật cường đòi lại nguồn gốc không?
Năm 938, Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán và chấm dứt 1000 năm Bắc Thuộc. Nhưng Ngô Quyền vì lực mỏng chỉ dừng ở Đại La. không tiến ra Quảng Đông - Quảng Tây để lấy lại phần đất đó nữa. Kể từ hôm ấy, Quảng Đông - Quảng Tây dần dần thuộc về Trung Quốc.
Nhưng có 1 người không chấp nhận điều đó.
Đấy là kẻ hùng tài đại lược, bất khả chiến bại sinh ra sau đó 800 năm: Quang Trung - Nguyễn Huệ.
Bạn hiểu tại sao Quang Trung đòi Lưỡng Quảng rồi chứ? Ai rảnh mà tự nhiên trời ơi đất hỡi đi đòi đất? Và không đòi cái gì lại chọn Lưỡng Quảng mà đòi. Bởi thời đại Quang Trung vẫn coi Triệu Đà là tổ. Và đất của tổ tiên là cần lấy lại.
"Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ trước không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung Quốc hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa."
Slogan của diễn đàn Hoàng Sa cũng là một kiểu nhắc nhớ như chính Quang Trung ngày xưa vậy. Ngày ông tin rằng với tài năng và bá khí của mình, sẽ lấy lại đất cho tổ tiên.
//
Vậy tại sao có sự tranh cãi như hôm nay, và chính ngay cả tôi viết bài hôm nay cũng chỉ cho các bạn một cách nhìn và một sự hiểu biết thêm về lịch sử chứ không bảo các bạn đi đòi đất.
Bởi khi công nhận Triệu Đà là ta gián tiếp công nhận Lưỡng Quảng là của nước ta. Điều này rất vô lý ở thời điểm bây giờ. Sau hội nghị Ianta về chấm dứt chiến tranh thế giới thứ 2 cùng sự ra đời của tổ chức Liên Hợp Quốc, mọi thứ lãnh thổ đất liền cơ bản đã được xác nhận. Đấy là sự tiến hóa của nhân loại và sự phân chia đâu ra đó để ngăn cản chiến tranh.
Ok, thích lấy Quảng Đông hả? Cứ lấy, và trả một phần miền Nam Bộ cho Campuchia. Chứ đâu ra cái chuyện ăn trên đầu trên cổ người ta. Đất mình mất thì đòi lại, đất mình lấy thì giữ luôn. Sự tiến hóa của nhân loại là để các bản đồ được giữ nguyên hiện trạng như bây giờ.
Về điểm này mà nói, các sử gia miền Bắc khi kể chuyện Mị Châu đã cố gắng tránh điều này, trong giai đoạn nhạy cảm về các mối quan hệ chính trị - ngoại giao. Đấy là một điểm đúng trong giai đoạn đó. Bây giờ mọi thứ đã tương đối ổn định, ta cũng nên lật ra để bàn luận nhằm hiểu lịch sử hơn.
Hôm nay tôi lai rai chuyện lịch sử này. Vốn là để các bạn hiểu vì sao Quang Trung đòi Lưỡng Quảng, vốn là cho các bạn biết về một trang sử bị bỏ quên của dân tộc, và qua đó hiểu hơn về những di chỉ thời cổ đại cùng mối uyên nguyên của nước ta và Trung Quốc. Chính cái mối uyên nguyên này để ta có cách nhìn rõ ràng hơn về ông hàng xóm béo bụng đó, về liên hệ giữa ta và họ và qua đó có cách nhìn rõ hơn cho hôm nay.
Chúng ta chỉ có thể đi đến tương lai trên nền tảng vững chắc về lịch sử. Đấy là điều tôi gửi gắm qua bài viết.
Chúc một ngày tốt lành !
© Dũng Phan
NƯỚC TA CÓ MẤY NGÀN NĂM VĂN HIẾN?
Mỗi đứa trẻ Việt nam ta, từ khi còn bé thơ cho đến khi trưởng thành gần như đều thuộc lòng 2 câu:
1 - Chúng ta là Con Rồng cháu Tiên.
2 - Nước ta có 4.000 năm văn hiến
Giờ ta hãy thử mổ xẻ xem sao.
+ Câu thứ nhất: Con Rồng cháu Tiên
Nghe thì có vẻ thuận miệng, nhưng có gì đó sai sai. Đúng ra phải là "Con Tiên - Cháu Rồng". Vì bà Âu Cơ sinh ra 100 người con thì đúng rồi, nhưng ông Long Quân, trước khi làm chồng "người ta", ổng đã là bậc chú của vợ tương lai mình. Chuyện này sách cũ nào cũng chép như thế:
Ông Đế Minh có 2 người con là ông Đế Nghi (Ly) và ông Lộc Tục.
Ông Đế Nghi sinh ra ông Đế Lai. Ông Đế Lai sinh ra cô Âu Cơ - đẹp như Tiên. Tức cô Âu Cơ là cháu nội ông Đế Nghi.
Ông Lộc Tục (Tức Kinh Dương Vương) lại sinh chàng Sùng Lãm - tức Lạc Long Quân - Vua Rồng họ Lạc.
Như vậy Lạc Long Quân về vai vế là chú lấy Âu Cơ là bậc cháu. Vì thế, đúng tôn ti trật tự, ta phải gọi là Con Tiên cháu Rồng mới đúng.
Mặt khác, câu: dòng Tiên giống Rồng nên được trích dẫn nguyên câu tiếng Việt:
“Ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài.”.
Cô Âu ở rừng, ông Lạc xuống biển, rồng thành giao long thuồng luồng. Nên cần phải hiểu Tiên Rồng ở đây theo nghĩa của bản hit của Sơn Tùng là “Chúng ta không thuộc về nhau”. Đấy cũng là định mệnh tiền định của dân tộc mình, khó ăn ở, ly biệt nhau hoài.
//
+ Câu thứ 2: về con số 4.000 năm văn hiến
Vào thế kỷ 15, khi viết Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi (1380-1442) chỉ nói: “Duy, ngã Đại Việt chi quốc, thật vi văn hiến chi bang”.
(Ngô Tất Tố dịch: Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu).
Có thể thấy, ngay trong "Cáo bình Ngô", cụ Ức Trai cũng không dám mạnh miệng xác định nước Nam có mấy ngàn năm văn hiến.
Cũng thế kỷ 15, trong Đại Việt sử ký toàn thư (Ngoại kỷ), quyển III, sử gia Ngô Sĩ Liên viết: “Nước ta thông thi thư, học lễ nhạc, làm một nước văn hiến, là bắt đầu từ Sĩ Vương”.
Như thế Ngô Sĩ Liên xác định VN có văn hiến kể từ thế kỷ 2 sau Công nguyên (CN), suy ra tính đến thế kỷ 21 VN vẫn chưa tròn 2.000 năm văn hiến!
VẬY TỪ ĐÂU CÓ CON SỐ TRÒN TRỊA 4.000?
Trước năm 1960 thời điểm viện Sử học Việt Nam Dân chủ cộng hòa bắt tay chứng minh sự tồn tại của vua Hùng và thời đại vua Hùng, hai trong các sử gia hàng đầu của Việt Nam - nếu không nói là 2 người giỏi nhất: Cụ Trần Trọng Kim và học giả Đào Duy Anh đều không thừa nhận có cái gọi là Vua Hùng và thời Hồng Bàng - nhà nước Văn Lang. Các sử gia ngoại quốc, chủ yếu là Pháp cũng nhận định như thế. Có ông còn bảo là Lạc Long Quân thì phải đẻ ra Lạc vương, Lạc hầu, Lạc dân chứ, sao lại đẻ ra Hùng, đấy là ông Maspero, người Pháp, ông này cho rằng Hùng có khi là do chữ Lạc viết trệch đi mà thành.
Ý kiến của cụ Trần Trọng Kim có lẽ là xác đáng nhất: “Nhưng ta phải hiểu rằng, nước nào cũng vậy, lúc ban đầu mờ mịt, ai cũng muốn tìm cái gốc tích mình ở chỗ thần tiên để cho vẻ vang cái chủng loại của mình….”. (Việt Nam sử lược - phần họ Hồng Bàng)
Thế nên Con số 4.000 dường như được nói tới khá phổ biến từ nửa sau thế kỷ 20. Bấy giờ có người đã lấy khoảng 2.000 năm sau CN để cộng với khoảng 2.600 năm TCN (thuộc thời đại Hùng Vương) rồi “làm tròn” con số xuống còn chẵn… 4.000.
Vậy con số 2.600 này ở đâu ra? Đó căn cứ theo cách tính của sử thần Ngô Sĩ Liên đời Lê. trong Đại Việt sử ký toàn thư (Ngoại kỷ), quyển 1, ông viết:
“Trở lên là [kỷ] Hồng Bàng thị, từ Kinh Dương Vương được phong năm Nhâm Tuất, cùng thời với Đế Nghi, truyền đến cuối thời vua Hùng Vương, ngang với đời Noãn Vương nhà Chu năm thứ 57 [258 TCN] là năm Quý Mão thì hết, tất cả 2.622 năm [2879 - 258 TCN]”. Theo bản dịch của Viện KHXH VN (1985-1992), bản in NXB KHXH (Hà Nội 1993).
Sử gia miền Nam - Đại tá Việt Nam Cộng hòa - Phạm Văn Sơn thì cho rằng: "Thời Hùng Vương chắc có tầm 600 năm trước CN, trừ đi 200 năm thời ông An Dương Vương, lấy con số này chia cho 18 đời vua, 1 ông ngồi khoảng 20 năm, có khi lại hợp lý về mặt thời gian."
Nghiên cứu đầy đủ về thời kỳ lịch sử này được trình bày trong công trình nghiên cứu tên là "Thời đại Hùng Vương” xuất bản năm 1973 - do ông Văn Tân, người được coi là trưởng lão của ngành cổ Sử miền Bắc trước 1975, chủ biên. Nghiên cứu này là một ví dụ thú vị về cách làm sử của giới sử học miền Bắc. Xin kể ra một vài điểm:
● Để chứng minh quốc gia Lạc Việt - Nhà nước Văn Lang là có thật, các nhà nghiên cứu bắt đầu chứng minh An Dương Vương là nhân vật lịch sử, và thành Cổ Loa chính là vật chứng không thể chối cãi. An Dương Vương có thật thì đương nhiên kẻ bị ông đánh bại - thủ lĩnh của người Lạc Việt - ông Hùng phải là có thật. Ông An Dương Vương có quân đội, đương nhiên ông Hùng cũng có quân đội: 1 đặc điểm của mọi hình thái nhà nước.
(Nói thêm một tý, hiện tại, một số nhà nghiên cứu Hán Nôm trẻ tuổi, có 1 người trong đấy tên là Trần Trọng Dương còn táo tợn hồ nghi Thành Cổ Loa xây muộn hơn rất nhiều, vào tầm thế kỷ 9-10 gì đấy. Không dám bình luận thêm về tồn nghi này.)
● Có ông Hùng cuối thì ông Hùng đời đầu tất nhiên tồn tại. Việc tại sao có 18 đời vua mà đến khoảng 2500 năm, các sử gia lúc đấy giải thích như sau:
"Nhưng dù sao giới hạn trên cùng này (năm 2879 trước CN) ở ta chằng qua cũng chỉ nằm trong phạm vi thời đại đồ đá mới…” - trang 53.
Sau đấy các bằng chứng về khảo cổ học, dân tộc học được đưa ra nhằm chứng minh, những rìu đá, cày đồng… đào ở di chỉ Phùng Nguyên có niên đại tầm 3,500- 4,000 năm. Từ đó suy ra, nhà nước Văn Lang tức thời đại Hùng Vương tồn tại khoảng 2,000 năm là điều tất nhiên. Hay, 1 ông vua giữ nhiệm kỳ hơn 1 thế kỷ không phải là hoang đường
● Một chứng minh vô cùng sáng tạo nữa trong công trình nghiên cứu này để khẳng định tính đầy đủ của hình thức tổ chức nhà nước Văn Lang, đấy là việc nội suy tài tình về sự tồn tại của pháp luật ở thời Hùng Vương. Theo các sử gia, Mã Viện sau khi đàn áp khởi nghĩa Hai Bà Trưng (khoảng năm 43 sau CN tức cách các đời đầu vua Hùng khoảng 2000 năm) đã tâu lên vua Hán rằng:
"Luật bên đất Giao Chỉ này có khoảng 10 điều khác bên ta."
Các sử gia ta căn cứ vào đấy và khẳng định rằng: Thời 2 Bà Trưng đã có luật, luật đấy phải có từ trước đấy, suy ra thời Hùng Vương có luật. Ngoài ra việc An Dương Vương chém Mị Châu, chứng tỏ, thời đấy đã áp dụng tinh thần luật pháp Quân pháp bất vị thân - trang 164 & 165
● Với hơn 10 năm nghiên cứu với các chuyên ngành bổ trợ: khảo cổ, dân tộc học, ngôn ngữ so sánh, địa lý học... từ 1960 đến 1970, các sử gia miền Bắc đã hoàn thành xuất sắc công cuộc chứng minh vua Hùng là có thật, thời đại Hùng Vương 2,000 năm là sự thât lịch sử chứ không phải là huyền thoại hoang đường.
KẾT:
Căn cứ vào kết luận khoa học này, lời mở đầu Hiến pháp năm 1980 đã tuyên bố: "Trải qua 4000 năm lịch sử , nhân dân Việt nam lao động cần cù…”
Không hiểu sau đấy Viện Sử học có thêm công trình nghiên cứu khác không, mà các Hiến pháp từ năm 1992 về sau sửa lại một tý : “Trải qua mấy nghìn năm lịch sử……”.
Và chúng ta có con số 4.000 năm văn hiến như thế đó.
© Trần Lâm Trung (đăng trên Cổ Thư Lâu) & học giả Nghê Dũ Lan
© Hiệu đính: son.le
→ Các bạn có thể xem thêm những bài khác theo mục lục của X-File: https://bit.ly/2HjsimL
.
Thứ Hai, 4 tháng 6, 2018
CÂU CHUYỆN VỀ KIM JONG UN - ĐỪNG ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM
UnknownThứ Hai, tháng 6 04, 2018Chính trị, Khoa học - Giáo dục, Văn hóa - Xã hội
Không có nhận xét nào
SHADOWLESS
Như chúng ta đã biết, trong thời gian qua, một trong những sự kiện nổi tiếng trên thế giới được nhiều nhà phân tích chính trị cũng như cộng đồng mạng hết sức quan tâm đó chính là việc bình thường hóa quan hệ để dần đi tới thống nhất hai miền Triều Tiên giữa Triều Tiên và Hàn Quốc. Nếu thực tế kết quả được như vậy thì đúng là không có gì quý hơn và đó cũng chính là hạnh phúc vô bờ bến của dân tộc này. Bởi lẽ, sau sự kiện Ký kết hiệp định Bàn Môn Điếm năm 1953, hai miền Triều Tiên đã lâm vào hoàn cảnh tương tự như Việt Nam trước đây đó chính là bị chia cắt đất nước ra làm đôi; phía Bắc là Triều Tiên theo chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa còn phía Nam là Hàn Quốc theo chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa. Nhưng không giống Việt Nam ở chỗ do nhiều yếu tố khác nhau mà đến tại thời điểm hiện nay, đất nước này vẫn chưa được thống nhất. Và những cuộc gặp lịch sử giữa nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un và Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in cũng tại Bàn Môn Điếm và sắp tới là cuộc gặp với Tổng thống Mỹ Donald Trump đã hứa hẹn những dấu hiệu tích cực cho điều này.
| Cuộc gặp lịch sử giữa hai nhà lãnh đạo Triều Tiên và Hàn Quốc tại Bàn Môn Điếm; ảnh: internet |
Đó có thể nói là thành công lớn nhất của nhà lãnh đạo Kim Jong Un trong vấn đề hòa hợp dân tộc. Tuy nhiên, một số Bogger “dân chủ Cuội” thông qua các bài viết của mình trong những ngày vừa qua đã lợi dụng sự việc này để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam như Nguyễn Tường Thụy, Bùi Tín... Bên cạnh đó, chúng còn công kích trực tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi cho rằng Tổng Bí thư cần phải sang Triều Tiên học hỏi lãnh đạo Triều Tiên thông qua bài viết “Ông Trọng nên sang Bình Nhưỡng học chú Kim” được đăng tải trên trang Đàn Chim Việt của Bùi Tín. Đó là những lập luận không thể chấp nhận được.
Thứ nhất, đất nước ta hiện nay hoàn toàn không giống Triều Tiên. Bởi lẽ, cách đây đúng 43 năm, ngày 30/4/1975, bỏ qua sức ép về mặt chính trị của một số nước lớn, bằng bất cứ giá nào quân và dân ta đã quyết tâm thống nhất đất nước và đã biến điều này thành hiện thực. Đó là điều không thể phủ nhận và liệu rằng Triều Tiên hay Hàn Quốc trước những sức ép từ nhiều phía cho đến thời điểm này đã có thể thống nhất hai miền đất nước. Liệu ai phải học tập ai hả Bùi Tín?
Thứ hai, Bùi Tín cho rằng: “Cái tài, cái khôn, cái giỏi của lãnh tụ hạt tiêu Kim là dám tách dần ra và chống sức ép của Trung Cộng cường quốc ở sát biên giới phía Bắc để thực hiện quyền độc lập tự chủ được toàn thế giới hoan nghênh và Liên hợp Quốc bảo vệ. Học ở Thụy Sỹ, nói tiếng Anh rất sõi, học tiếng Pháp ngang cấp đại học, mê bóng rổ, fan của nhạc rock và jazz, phi ngựa, lái máy bay, đâu phải chỉ là «chú bé tên lửa» như ông Trump đánh giá”. Thật hết sức nực cười khi đề cập đến vấn đề này. Chúng ta hoàn toàn có thể nghi ngờ rằng, năm xưa, khi Bùi Tín trốn chạy khỏi đất nước, dường như y đã nghe theo tiếng gọi của những giá trị phương Tây chứ hoàn toàn không phải vì cái gì đó to tát mà y luôn mang theo trên “mồm”. Điều này càng cho thấy trình độ nhận thức của một tay blogger đã “cũ” mà đám rồ trên mạng vẫn đang tôn sùng và cổ vũ.
Tóm lại, chuyện Triều Tiên thống nhất đất nước, hòa hợp dân tộc được là chuyện vui của đất nước họ, chúng ta không phán xét hay bình luận gì thêm vì chính chúng ta cũng đã trải qua quãng thời gian như vậy. Tuy nhiên, lợi dụng sự kiện đó để công kích, vu khống lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chỉ trích chế độ ta là không thể chấp nhận được.
Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2018
HỒ CHÍ MINH DỤNG BINH PHÁP TÔN TỬ VÀ TAM THẬP LỤC KẾ
UnknownThứ Sáu, tháng 6 01, 2018Chính trị, Khoa học - Giáo dục, Văn hóa - Xã hội
Không có nhận xét nào








