Tri thức là những giọt nước trong đại dương bao la!

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tôn giáo. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2018

VÌ SAO GIÁO DÂN CÔNG GIÁO "DỄ LÀM LOẠN"?

ĐÔNG TUYỀN
Tôi từng có thời gian có thể gọi là "sống trong lòng giáo xứ", hồi đó tôi làm trong một xưởng sản xuất Tượng Công Giáo, ở gần nhà thờ Fatima, Thủ Đức, TP. HCM, nhờ cơ duyên ấy mà tôi cũng hiểu ít nhiều về Công Giáo. Hàng ngày làm ra những bức tượng của các vị như Chúa Jesus, Đức Mẹ Maria, Mẹ Fatima, Thánh Cả Giuse, Tổng Lãnh Thiên Thần Michael ... những câu chuyện về các vị, và sự mường tượng ra thế giới của các vị tạo cho tôi một niềm phấn khích rất mạnh.



Tôi gặp, tiếp xúc những giáo dân, họ rất tuyệt vời, nếu chỉ dùng một từ để miêu tả về họ, tôi sẽ dùng từ "thanh lịch" cho những nữ giáo dân, "ôn hòa" cho những nam giáo dân. Tôi có tham gia hầu hết những lễ hội, nghi lễ trong một năm ở nhà thờ Fatima, duy có nghi thức ăn một loại bánh mà bên đạo gọi là "thịt chúa" thì tôi không thực hiện, bởi tôi nghĩ mình là người ngoại đạo thì không nên.

Tôi nhớ có lần trong thời lễ 5 giờ sáng, vị linh mục giảng với giáo dân rằng (tôi chỉ nhớ nôm na) : "chúng ta là những Kito Hữu, những người làm chứng cho sự hiện diện của Chúa Ba Ngôi, vì vậy, chúng ta tuyệt đối không được nói bậy, nói dối ... bởi nếu như vậy người khác sao có thể tin sự làm chứng của chúng ta ..."., tôi hiểu ra vì sao những giáo dân tôi tiếp xúc lại thanh lịch và ôn hòa như vậy, và tôi tin rằng Chúa Jesus đã dạy cho tín đồ của ngài những điều thật tốt đẹp.

Là người ngoại đạo, nhưng tôi dành nhiều sự kính ngưỡng cho Chúa Jesus, cho những giá trị nhân bản mà ngài để lại cho nhân loại, vì vậy, tôi đã phải rất cẩn thận đắn đo khi viết bài này, để chắc chắn rằng những phân tích của mình là khoa học và khách quan.


Từ năm 1945, nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (sau này là Cộng Hòa XHCN Việt Nam) đã luôn coi trọng tự do tín ngưỡng tôn giáo, cọi trọng hòa hợp tôn giáo tín ngưỡng và tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển.

Nhà nước ta chỉ một ngày sau lễ Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong phiên họp đầu tiên vào ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ lâm thời tuyên bố: “Tín ngưỡng tự do và lương giáo đoàn kết”, coi đó là một trong sáu nhiệm vụ của Nhà nước còn non trẻ.

Sau đó, thay mặt Chính phủ lâm thời, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký văn bản ngày 20/9/1945, trong đó Điều I ghi rõ: “Đền chùa, lăng tẩm, nhà thờ, tất cả những nơi có tính cách tôn giáo, bất cứ tôn giáo nào, nhân dân đều phải tôn trọng, không được xâm phạm”.

Nhưng văn bản có tính pháp luật tiêu biểu và hoàn chỉnh nhất trên chặng đường đầu tiên xây dựng luật pháp về tôn giáo, tín ngưỡng là Sắc lệnh số 234-SL ngày 14/6/1955 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Điều 15 trong Sắc lệnh ghi rõ: “việc tự do, tín ngưỡng, thờ cúng là một quyền lợi của nhân dân. Chính quyền dân chủ cộng hoà luôn luôn tôn trọng quyền lợi ấy và giúp đỡ nhân dân thực hiện”.

Hiện nay trên cả nước có 13 tôn giáo với 36 tổ chức tôn giáo và 1 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động với gần 24 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), 83.000 chức sắc, 250.000 chức việc, 46 cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo, 25.000 cơ sở thờ tự, trong đó Phật giáo có khoảng 11 triệu tín đồ, Công giáo gần 7 triệu tín đồ, Cao đài khoảng 2,4 triệu tín đồ, Tin lành hơn 1 triệu tín đồ,…

Thế nhưng, vấn đề tôn giáo ở Việt Nam vẫn còn rất phức tạp, mà tâm điểm là Công Giáo. Vừa rồi, có vụ giáo dân thuộc giáo xứ Mỹ Yên - Nghệ An đòi công an thả phạm nhân bất thành dẫn đến bạo loạn, việc này không quá lạ lẫm với những ai quan tâm đến những tin tức an ninh, chính trị, đã từng biết đến những vụ như Thái Hà, ... Phải thừa nhận rằng, bên cạnh nhưng giáo dân, linh mục luôn sống "tốt đời đẹp đạo", "phúc âm trong lòng dân tộc" thì còn đó nhiều những người mang tư tưởng chống đối nhà nước bất chấp lý lẽ, đi ngược với lời răn của Chúa.

Vì sao tôi nói là "bất chấp lý lẽ, đi ngược với lời răn của Chúa"? Cùng xét trong vụ Mỹ Yên Vừa rồi. 

2 giáo dân Nguyễn Văn Hải và Ngô Văn Khởi vô cớ đánh đập, bắt giữ trái phép và phá hoại tài sản người khác ở xã Nghi Phương bị bắt, ấy là hợp lẽ, hợp luật. Nhưng bất chấp lý lẽ và pháp luật, bà con giáo dân ở đây lại đòi thả người, khi bất thành lại gây bạo loạn.

Trong cuốn Giáo lý Hội thánh Công giáo do Ban Giáo lý mà người đứng đầu là Linh mục Augustino Nguyễn Văn Trinh cùng bốn nhà dòng ở Thành Phố Hồ Chí Minh (Dòng Ðức Bà, Hội dòng Phan-Sinh Thừa Sai Ðức Mẹ, Dòng Thánh Phao-lô thành Chartres và Dòng Chúa Quan Phòng) dựa trên các bản tiếng Pháp, Anh, Ý và Ðức, dịch ra tiếng Việt từ năm 1993 để giáo huấn con chiên, trong Mục 6-Lương tâm đã ghi rất rõ "Con người khám phá ra tận đáy lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho mình, nhưng vẫn phải tuân theo. Tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người...Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người... ".

Rõ ràng việc tụ tập đông người, đập phá của công, xâm hại thân thể người khác không thể nào gọi là “thi hành điều thiện” được. Thay vì để “tránh điều ác” họ lại xông vào làm việc ác. Cho dù họ luôn mồm biện minh cho hành động đó là để cứu “anh em thân hữu” đang bị “chính quyền giam giữ trái phép”. Đó là điều hoàn toàn bịa đặt. Và kể cả trong trường hợp như vậy, thì Giáo lý Công giáo cũng không cho phép họ làm điều đó vì Giáo lý đã nghiêm cấm “Không bao giờ được phép làm điều xấu để đạt một kết quả tốt”.

Thánh tông đồ Phao-lô liệt kê một loạt các đặc điểm của đức mến: "Ðức mến thì nhẫn nhục, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Ðức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả". Thế nhưng, một số giáo dân Giáo xứ Mỹ Yên đã có những hành vi trên cả “nóng giận” và hả hê khi đập phá, chửi bới, lăng mạ người khác. Tất cả những hành động đó hoàn toàn đi ngược lại với những điều răn trong giáo lý của họ.

Đó là các giáo dân, còn với linh mục thì sao? Lẽ ra với cương vị và bổn phận của mình họ phải ra sức can ngăn những hành động đi ngược lại Giáo lý Hội thánh Công giáo thì họ lại thờ ơ bỏ mặc, thậm chí là có những hành động hùa theo. Chắc chắn họ là những người nắm rõ, hiểu sâu Giáo lý Công giáo. Nên họ không thể nào không biết trong Giáo lý đã nói rõ là "Tốt nhất là tránh những gì gây cớ cho anh em mình vấp ngã". Họ đã không làm vậy mà thậm chí còn “bật đèn xanh” “Cha sẽ làm hết trách nhiệm của mình, nếu cha không làm được (đòi thả người vô điều kiện-PV) thì các con muốn làm gì thì làm", chủ động đẩy cho giáo dân của mình “vấp ngã”, phản lại Giáo lý. Như thế là họ đã mắc tội.

Theo định nghĩa của Giáo lý Hội thánh Công giáo tại Mục 8- Tội lỗi thì “Tội là một hành vi nghịch với lý trí, làm tổn thương bản tính con người và vi phạm đến tình liên đới giữa nhân loại”. Hành động của họ đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến mối đoàn kết lương-giáo và đã thật sự “vi phạm đến tình liên đới giữa nhân loại”. Giáo lý cũng đã chỉ rõ: tội là một hành vi cá nhân. Ngoài ra, chúng ta còn có trách nhiệm mang các tội do những người khác phạm, khi chúng ta cộng tác vào đó, bằng cách: tham gia một cách trực tiếp và cố tình ra lệnh, xúi giục hoặc tán thành;che đậy, hoặc không ngăn cản, khi có bổn phận phải can ngăn; bao che những người làm điều ác.

Đằng này một số linh mục tại chỗ, không hiểu vô tình hay cố ý ra “Thông cáo” và công bố “Thư chung” vu khống “lực lượng công quyền vào nhà dân, đập vỡ tượng thánh trên bàn thờ, phá phách bàn thờ tổ tiên, hành hung và bắt người vô tội”. Vậy là họ cũng đã mắc phải tội. Vì Thánh Kinh nhiều lần liệt kê các thứ tội và cảnh báo "Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thảo kính cha mẹ". Thứ tội mà một số người “bề trên” đã ra “Thông cáo”, “Thư chung” ở Tòa Giám mục Xã Đoài phạm phải chính là tội “làm chứng gian”.

Như vậy, mới chỉ phân tích và đối chứng ở một vài điểm trong Giáo lý Hội thánh Công giáo đã thấy nổi rõ lên một điều là: tất cả những hành vi, lời nói của một số giáo dân ở Giáo xứ Mỹ Yên và một số người trong cương vị chăn dắt họ, hành xử đối với vụ việc gây rối trật tự xã hội, chống đối chính quyền ở xã Nghi Phương vừa vi phạm nghiêm trọng luật pháp, vừa vi phạm nghiêm trọng Giáo lý Công giáo. Nói đúng ra là họ đã có những hành động phản bội lại Giáo lý của chính họ. Đây là điều mà các giáo dân chân chính, kính chúa, yêu nước không bao giờ chấp nhận.

Bởi Giáo lý của Hội thánh Công giáo đã răn “Mỗi người phải đóng góp cho các cộng đồng mà mình là thành viên, và phải tôn trọng các người cầm quyền có trách nhiệm mưu cầu công ích. Ðời sống xã hội trước hết phải được coi là một thực tại tinh thần. Thực tại này bao gồm việc trao đổi các kiến thức trong ánh sáng chân lý. Thực thi các quyền và chut oàn các bổn phận, cùng nhau tìm hiểu sự thiện hảo luân lý, chung hưởng cái đẹp thanh cao dưới mọi hình thức chính đáng, luôn sẵn sàng chia sẻ cho tha nhân những gì tốt đẹp nhất của mình và mong ước cho nhau được ngày càng phong phú về mặt tinh thần. Ðây là những giá trị phải nuôi dưỡng và định hướng cho những sinh hoạt văn hóa, kinh tế, tổ chức xã hội, các phong trào và các thể chế chính trị, pháp luật và mọi sinh hoạt khác nữa của đời sống xã hội trong tiến trình chuyển biến không ngừng của nó”.

Vậy câu hỏi đặt ra là vì sao họ, những giáo dân và linh mục lại hành động bất chấp pháp luật và giáo lý như vậy ? Dễ làm loạn như vậy ?

Nguyên nhân có rất nhiều, nhưng tôi xin đưa ra đây 3 nguyên nhân chính nhất (theo tôi)

I. MÂU THUẪN LỊCH SỬ :

Như chúng ta đa biết Công giáo tại Việt Nam được bắt đầu từ khi các nhà truyền giáo phương tây đầu tiên đến Việt Nam để rao giảng đạo Công giáo, khi ấy còn gọi là Đạo Gia-tô.

Ngày 3 tháng 7 năm 1645 linh mục Alexandre de Rhodes rời Việt Nam về Roma để báo cáo cho Tòa Thánh về những tiến triển mau chóng trong việc truyền đạo tại Việt Nam, nhất là xin gửi một số giám mục đến truyền giáo tại Việt Nam, nơi mà ông gọi là "cánh đồng truyền giáo phì nhiêu" để củng cố nền móng cho Giáo hội.

Ông được Roma (Vatican) cho phép đi khắp đất Pháp đi tìm những ơn kêu gọi, tìm những linh mục sẵn sàng xung phong và tiếp tục công việc đã khởi sự với nhiều thành quả may mắn: tại đây mới có Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris). Hội ra đời năm 1658 và được chấp nhận năm 1664 dưới thời Giáo hoàng Alexandro VII. Vị Giáo hoàng này đã ký sắc lệnh bổ nhiệm hai miám mục đầu tiên cho Viễn Đông: Giám mục Phanxicô Pallu và Giám mục Lambert de la Motte.

Về sau, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, mối quan hệ của Công Giáo ở Việt Nam và quân Pháp là rất bền chặt. Sử gia người Pháp Georges Coulet từng nhận xét trong quyển Cultes et Religions de l’Indochine Annamite (Saigon) như sau: “Công giáo đã mở cửa cho quân đội Pháp và là nguyên nhân trực tiếp của cuộc xâm lược đất nước này”.

Năm 1950 Quốc trưởng Bảo Đại ban hành đạo dụ số 10 điều chỉnh các tổ chức hội đoàn trong đó các tôn giáo được xem như các hiệp hội. Đạo dụ này đặt ra những hạn chế đối với các hội đoàn, tôn giáo như chỉ cho phép các hội đoàn, tôn giáo có nguồn thu nhập là các lệ phí hội viên (hình thức đặt thùng lạc quyên, công đức là bất hợp pháp); hạn chế bất động sản của các hội, tôn giáo: chính quyền có thể buộc đấu giá các bất động sản của các hiệp hội, tôn giáo; chính quyền vì lý do trị an có thể không cấp phép hoặc thu hồi giấy phép lập hội... Đặc biệt trong đạo dụ này có điều khoản 44 có quy định chế độ "ưu tiên đặc biệt" cho các hội truyền giáo Thiên chúa giáo, đặt Công giáo ra ngoài sự điều chỉnh của đạo dụ này. Thực chất đây là một chính sách thiên vị về tôn giáo của nhà cầm quyền bảo hộ Pháp. Ngô Đình Diệm sau khi trở thành Tổng thống đã cho bãi bỏ hầu hết các sắc lệnh của chính quyền thực dân trước đây nhưng vẫn giữ nguyên đạo dụ số 10 duy trì tình trạng thiên vị về tôn giáo.

Mối liên hệ khắng khích giữa Công giáo và thực dân Pháp đã tích cực giúp cho cộng đồng Công giáo Việt Nam chiếm được những miếng đất "đắc địa" trên khắp miền đất nước. Những miếng đất tốt nhất, ngay tại trung thâm thành phố hay thị xã, được được xây nhà thờ hay cơ sở công giáo. Chúng ta không ngạc nhiên khi thấy nhiều nhà thờ ngày nay chễm chệ "ngồi" trên những miếng đất rất tốt tại các thành phố lớn như Hà Nội và Sài Gòn. Vụ việc Thái Hà có thể coi là tàn dư của mối quan hệ này.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và sau này là Đế Quốc Mỹ, có rất nhiều đồng bào công giáo đã cầm súng vì tự do, độc lập của dân tộc, tiêu biểu như gia đình Đại tá tình báo Phạm Ngọc Thảo, tuy nhiên phải thừa nhận hầu hết người Công Giáo thời ấy lại có tư tưởng thân Pháp, Mỹ, đặc biệt chính quyền VNCH có thể coi là một chính quyền Công Giáo (cả hai ông Ngô Đình Diệm và Nguyễn Văn Thiệu đều là người Công giáo).

Quyền lực của Công Giáo trong thời Việt Nam Cộng Hòa là rất lớn, dưới các năm cầm quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm, việc đặt Thiên chúa giáo vượt ra ngoài sự điều chỉnh của đạo dụ số 10 đã làm các thế lực thân Thiên chúa giáo, "lực lượng Công giáo" lộng hành và tha hóa. Từ chỗ đặt mục tiêu số một là dùng hữu thần chống vô thần cộng sản để giúp sức và hỗ trợ chính quyền (như kỳ vọng của đạo dụ số 10 thông qua biện pháp phát triển giáo hội, giáo dân) họ đã chuyển mục tiêu chính sang ưu tiên số một là phát triển nhanh giáo hội, đưa các giáo dân vào nắm các cương vị cao trong chính quyền (kể cả các giáo dân là cộng sản mới cải đạo hoặc bị tình nghi là cộng sản) thông qua biện pháp chèn ép và phân biệt đối xử đối với Phật giáo.

Các thế lực chính trị thân Thiên chúa giáo, cũng như "lực lượng Công giáo" trong chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã giảm bớt dần ảnh hưởng của Phật giáo, hạn chế ảnh hưởng của các thế lực chính trị thân Phật giáo cũng như xóa bỏ ảnh hưởng của các "lực lượng Phật giáo" thông qua việc nhanh chóng phát triển số lượng giáo dân Công giáo ở miền Nam Việt Nam: họ ưu tiên bổ nhiệm những người theo Công giáo vào các vị trí chính quyền và quân đội, dùng tuyên truyền công khai nói xấu Phật giáo, ca ngợi Công giáo, giành cho các xứ đạo Công giáo các điều kiện kinh tế tài chính xã hội thuận lợi nhất trong khi đó hạn chế tài sản, kinh tài của các tôn giáo khác. Khuyến khích, dụ dỗ và để người dân, công chức cải đạo sang Công giáo, cưỡng ép khi có cơ hội những gia đình có thân nhân theo cộng sản hoặc những người có tư tưởng thân cộng phải cải đạo để được chở che.

Đặc biệt trong quá trình đấu tranh chống cộng sản và xây dựng ấp chiến lược thì đa số nạn nhân là người theo Phật giáo các chiến dịch chống cộng vừa chống cộng sản vừa kết hợp chống Phật giáo: có một số không nhỏ Phật tử bị quy kết là thân cộng và bị truy bức; nhiều người, để yên ổn tránh liên đới, phải cải đạo sang Công giáo ; quy mô cải đạo ở các tỉnh miền Trung được mở rộng vì đó là khu vực cai quản rất khắc nghiệt của Ngô Đình Cẩn (em trai út của Ngô Đình Diệm – cố vấn Trung phần và, trên thực tế, là người cai quản toàn quyền miền Trung). Trong các ấp chiến lược chính quyền chỉ cho dựng nhà thờ Công giáo mà không cho lập chùa , cũng như trong quân đội chỉ có nha tuyên uý công giáo chứ không có nha tuyên uý phật giáo , chính phủ biến các sự kiện trong đời sống Công giáo thành các lễ hội quốc gia...

Giám mục Ngô Đình Thục, anh trai Tổng thống Diệm, có tham vọng trở thành Hồng y Giáo chủ nên cố gắng tuyên truyền tại Toà thánh La Mã rằng ở miền Nam Việt Nam đã có 60% dân số theo Công giáo và Phật giáo đã suy tàn không còn hoạt động ... các anh em của Tổng thống là Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Trần Lệ Xuân, Ngô Đình Cẩn lạm dụng các ảnh hưởng của chính quyền càng làm trầm trọng thêm sự phân biệt đối xử tôn giáo.

Đến năm 1963 tình hình kỳ thị Phật giáo của các thế lực chính trị thân Thiên chúa giáo đã lên đến cực điểm và sự kiện Phật đản 1963 chỉ là sự bùng nổ của các mâu thuẫn đã chứa chất lâu năm trong lòng xã hội miền Nam Việt Nam.


Ngày nay, có thể nói mọi thứ đã đổi khác, Công Giáo bình đẳng với tất cả những tôn giáo khác, những công dân khác, và phần nhiều họ hài lòng với sự bình đẳng đó. Tuy nhiên sự mâu thuẫn trong lịch sử không phải ngày một ngày hai mà phai nhòa, chính vì thế còn nhiều người có tư tưởng chống phá nhà nước.

II. NIỀM TIN LẦM LẠC

Mô hình của một tôn giáo thường sẽ là : Thần (Thánh, Chúa ... ) + Sứ Giả (người truyền tin, tu sỹ, linh mục ..... (có vai trò trung gian)) + Tín Đồ.

Ở Đạo Giáo thì đó sẽ là : Các vị tiên trường sinh bất tử + Đạo sĩ + Tín đồ, ở Đạo Hồi là : Thượng Đế (Allah Đấng Tối Cao) + Sứ Giả + Tín Đồ (Adam là sứ giả đầu tiên, Muhammad là sứ giả cuối cùng, hiện tại Đạo hồi không có sứ giả cũng không có tu sĩ), ở Đạo Mẫu là : Thánh Mẫu + Thầy Đồng + Tín Đồ ...

Duy có Đạo Phật thì khác, Phật là Thầy, Tăng là Bạn, tất cả theo nhân quả mà không có một đấng sáng tạo nào, vì đó mà nhiều người cho rằng Đạo Phật không thuần túy là một tôn giáo. Tuy nhiên ngày nay, một bộ phận Phật Giáo không còn giữ được sự nguyên thủy của nó nên mô hình Phật là Thầy, Tăng là Bạn cũng sai khác ít nhiều, có thiên hướng giống như mô hình các tôn giáo khác.

Thiên Chúa Giáo là một tôn giáo độc thần, theo đúng mô hình nói trên : Thiên Chúa (Chúa Ba Ngôi : Cha - Con - Và Các Thánh Thần) + Linh Mục + Tín Đồ.

Vấn đề nằm ở chổ những "người trung gian" nhận mình là cầu nối giữa Thần và người, nên lời nói của họ rất khả tín với tín đồ, niềm tin đó đôi khi mù quáng và lầm lạc, thay vì tin và chỉ tin những gì Thần răn dạy trong kinh sách, giáo lý thì tín đồ lại phó thác toàn bộ ý chí của mình cho những "người trung gian" đó.

Vụ Mỹ Yên vừa qua là minh chứng rõ nét nhất cho điều này.

III. MÔ HÌNH TỔ CHỨC MANG MÀU SẮC CHÍNH TRỊ

Công Giáo là tôn giáo duy nhất có mô hình tổ chức phân quyền như một mô hình nhà nước, toàn bộ hệ thống giáo hội trên khắp thế giới đều đặt dưới sự lãnh đạo của Thánh Quốc Vatican.

Vatican là một quốc gia có chủ quyền với lãnh thổ bao gồm một vùng đất được xây tường bao kín, nằm trong lòng thành phố Rôma, Ý. Với diện tích xấp xỉ 44 hécta (108,7 mẫu Anh), đây là quốc gia độc lập nhỏ nhất thế giới.

Dù được xem là quốc gia độc lập có diện tích nhỏ nhất thế giới, nhưng ảnh hưởng của Vatican lại hiện diện gần như trên toàn cầu.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hồi năm 1960, phe của ứng viên Richard Nixon từng tiến hành một chiến dịch tuyên truyền rằng nước này sẽ bị “Vatican hóa” nếu ông John F.Kennedy thuộc đảng Dân chủ thắng cử. Theo tạp chí Newsweek, phe Nixon khi đó tuyên bố mối quan hệ thân thiết với Vatican sẽ khiến chính sách của đối thủ Kennedy bị Tòa thánh chi phối. Quả thực, điều này trở thành một đòn độc khiến ứng viên đảng Dân chủ lao đao khi nhiều người dân Mỹ lúc bấy giờ lo ngại bị điều hành bởi Vatican. Sau đó, nhờ sự may mắn cùng những nỗ lực hết mình, ông Kennedy mới chiến thắng. Thậm chí còn có cáo buộc rằng phe của ứng viên này đã gian lận phiếu bầu chứ thực tế không hề chiến thắng. Khó khăn mà Tổng thống Kennedy trải qua trở thành minh chứng cho sự ảnh hưởng của quốc gia nhỏ bé Vatican.

Về mặt cơ học, Vatican chỉ có diện tích tương đương 0,5 km2 và dân số khoảng 1.000 người. Tuy nhiên, Vatican được xem như trung tâm giáo quyền của Giáo hội Công giáo Rome (gọi tắt là công giáo), nên tất cả những tín đồ công giáo toàn thế giới đều là “con dân” về mặt tinh thần của quốc gia nhỏ bé này.

Theo cơ quan thông tấn Zenit của Vatican, dựa trên những thống kê từ năm 2000 - 2008, công giáo có khoảng 1,16 tỉ tín đồ khắp thế giới. Cũng theo thống kê này, tính đến năm 2008, công giáo có tổng cộng 5.002 giám mục trên thế giới, tăng hơn 10% so với con số 4.541 hồi năm 2004. Mỗi giám mục phụ trách một giáo phận, góp phần tạo nên một tổ chức lâu đời và được xem là lớn nhất thế giới. Vì vậy, Vatican nói chung và bản thân các giáo hoàng nói riêng có ảnh hưởng không nhỏ trên toàn cầu.

7 triệu công dân Việt Nam, tức khoảng 7% dân số đồng thời lại chịu ảnh hưởng rất lớn về mặt ý chí với một quốc gia khác, đó là điều cần đặt dấu hỏi, một dấu hỏi về sự ảnh hưởng trong tư tưởng chính trị, nhất là với một quốc gia theo CNXH như chúng ta.

KẾT LẠI : Sự ảnh hưởng từ bên ngoài, niềm tin lầm lạc, và tàn dư của nhưng mâu thuẫn lịch sử chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng "thích làm loạn" của một bộ phận không nhỏ người theo Công Giáo ở Việt Nam.

Xin nhắc lại Giáo Lý của Hội Thánh thay cho kết bài như một lời nhắn gửi đến những tín đồ Công Giáo đang còn thiếu tinh thần xây dựng : “Mỗi người phải đóng góp cho các cộng đồng mà mình là thành viên, và phải tôn trọng các người cầm quyền có trách nhiệm mưu cầu công ích. Ðời sống xã hội trước hết phải được coi là một thực tại tinh thần. Thực tại này bao gồm việc trao đổi các kiến thức trong ánh sáng chân lý. Thực thi các quyền và chu toàn các bổn phận, cùng nhau tìm hiểu sự thiện hảo luân lý, chung hưởng cái đẹp thanh cao dưới mọi hình thức chính đáng, luôn sẵn sàng chia sẻ cho tha nhân những gì tốt đẹp nhất của mình và mong ước cho nhau được ngày càng phong phú về mặt tinh thần. Ðây là những giá trị phải nuôi dưỡng và định hướng cho những sinh hoạt văn hóa, kinh tế, tổ chức xã hội, các phong trào và các thể chế chính trị, pháp luật và mọi sinh hoạt khác nữa của đời sống xã hội trong tiến trình chuyển biến không ngừng của nó”.


Share:

Thứ Tư, 9 tháng 5, 2018

ISIS: CHIẾC MẶT NẠ CỦA PHƯƠNG TÂY

Lần đầu tiên kể từ vụ Algiers Putsch tức Putsch d’Alger của cuộc đảo chánh nhằm lật đổ Tổng thống Pháp Charles de Gaulle tháng 5 năm 1961, nước Pháp mới phải ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia ngay sau các cuộc tấn công kinh hoàng tại Paris tuần qua. Trước đó, cũng tại Paris, các vụ tấn công Tòa Soạn Charlie Hebdovà Tiệm Tạp Hóa Kosher ở Porte de Vincennes ngoại ô Paris đầu năm nay trở thành những cuộc diễn tập ở quy mô nhỏ. Gần như ngay trong tích tắc các tư liệu dường như đã chuẩn bị sẵn một cách công phu kiểu cẩm nang Gia Cát Khổng Minh được lên khuôn để lái tất cả dư luận toàn thế giới về một cái tên: ISIS. Như tất cả các cuộc tấn công khủng bố gần đây tại Châu Âu và Bắc Mỹ kể cả vụ Garland ở Texas Hoa Kỳ tháng 5 năm nay, những kẻ thủ ác đều giống nhau ở điểm chúng bị các cơ quan an ninh theo dõi trong nhiều năm, một số trong bọn chúng thậm chí còn bị bắt giam vì những cáo buộc có liên quan đến khủng bố, từng ra hải ngoại chiến đấu bên cạnh các tổ chức khủng bố được Phương Tây hậu thuẫn ở Syria, Iraq, và nhiều nơi khác trên thế giới. Vậy ISIS là ai hay là gì, và lẽ nào hắn hay nó có quyền năng tuyệt đỉnh đánh bại toàn bộ hệ thống tình báo và phản gián của Phương Tây để có thể gây ra những cuộc tấn công tại bất cứ nơi nào hắn hay nó muốn, thậm chí được thực hiện bởi những kẻ thủ ác kamikaze terrorist tức khủng bố cảm tử mà các cơ quan an ninh của các đế chế tình báo Phương Tây này biết rất rõ, đã từng đôi lần sờ gáy chúng, cũng như đã luôn có hồ sơ ghi nhận đầy đủ nhất cử nhất động của chúng trong ít nhất hàng thập kỷ trong nội địa và cả ở hải ngoại nhưng hoàn toàn không thể làm gì để vô hiệu hóa chúng?
Biếm họa quốc tế: ISIS thật ra là con rối của Mỹ

Al Qaeda


Trước hết, Al Qaeda cùng các tổ chức phụ thuộc đã do chính Mỹ lập nên và tài trợ với những trại huấn luyện của CIA tại Pakistan để chiêu mộ và đào tạo 35.000 chiến binh jihad từ 43 quốc gia Hồi Giáo để chống lại Liên Xô trong cuộc chiến tranh Afghanistan những năm 1980 của thế kỷ trước. Từ thời Chính quyền Reagan đến nay Mỹ đã thường xuyên tài trợ cho hệ thống khủng bố Hồi giáo. Nguyên Bộ Trưởng Ngoại Giao Anh Robin Cook từng tuyên bố thẳng thừng trước Hạ Viện Anh rằng Al Qaeda là sản phẩm của các cơ quan tình báo Phương Tây, rằng Al Qaeda là từ viết tắt của “cơ sở dữ liệu” trong tiếng Ả Rập, tức hồ sơ vi tính danh sách hàng ngàn người cực đoan Hồi Giáo mà CIA đã huấn luyện thành công với sự chu cấp tài chính của Saudi Arabia nhằm đánh bại Liên Xô ở Afghanistan. Chính CIA đã tạo ra nhân vật Osama Bin Laden và dưỡng nuôi tổ chức khủng bố của hắn trong những năm 1980 ấy. Mối quan hệ Mỹ-Al Qaeda luôn là thứ quan hệ yêu đó rồi ghét đó: tùy vào việc một nhánh khủng bố nào đó của hệ thống Al Qaeda tại một khu vực nào đó có phục vụ đúng ý đồ quyền lợi của Mỹ hay không mà Bộ Ngoại Giao Mỹ sẽ hoặc tiếp tục vung tiền tài trợ hoặc ra tay chống đối.

ISIS – Nhà Nước Hồi Giáo The Islamic State (gọi tắt là IS)

ISIS thoát thai từ hệ thống Al Qaeda, do tình báo Mỹ CIA tạo ra, với sự chung tay góp sức của tình báo Anh MI6, tình báo Israel Mossad, tình báo Pakistan ISI và tình báo Saudi Arabia GIP Ri’āsat Al-Istikhbārāt Al-’Āmah. Các đạo quân của ISIS tham gia vào cuộc nổi dậy do Mỹ và NATO hậu thuẩn để chống lại chính quyền Tổng Thống Bashar al Assad ở Syria. Tổng Thống Bashar al Assad phải bị lật đổ không vì chế độ độc tài, chẳng vì bất kỳ danh xưng tiêu cực nào như tham nhũng hay lạm sát, mà chỉ vì một lý do duy nhất: đồng minh trung thành tuyệt đối của siêu cường Nga. Thời gian dài của năm 2014 đã chứng minh ISIS được liên minh quân sự Phương Tây bảo bọc chở che qua sự tấn công duy chỉ bằng mồm của Tổng Thống Mỹ. Những diễn biến gần đây tại Trung Đông do chính tình báo Israel tiết lộ cho biết các phần tử khủng bố ISIS và lính đánh thuê Al Nusrah được tuyển mộ bởi NATO và Thổ Nhĩ Kỳ từ các quốc gia Trung Đông và từ cộng đồng Hồi Giáo trên toàn thế giới để giao cho CIA huấn luyện và trang bị vũ khí tối tân hạng nặng, còn quân đội Thổ Nhĩ kỳ sẽ chứa chấp các “chiến binh tình nguyện” này để lẻn đưa vào Syria tham chiến cùng các phiến quân nhằm nhanh chóng lật đổ Tổng thống Bashar al Assad bằng xung đột vũ trang.

Y hệt như Al Qaeda, ISIS là sản phẩm của Mỹ, là công cụ khủng bố để Mỹ phân chia chiếm lĩnh vùng Trung Đông đầy ắp dầu hỏa và để khống chế tầm ảnh hưởng của Iran đối với khu vực Trung Đông. Sự thật về việc Mỹ từ lâu đã tài trợ cho các nhóm khủng bố chỉ làm ngạc nhiên những ai chỉ đọc báo mà làm ngơ với thế giới sử. CIA đã liên minh với Hồi giáo cực đoan từ thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, lúc Mỹ xem chỉ có sự tồn tại giữa hai đối trọng của một bên là Liên Xô cùng các nước dân tộc chủ nghĩa thuộc Thế Giới Thứ Ba và một bên là liên minh chống Nga gồm các quốc gia Phương Tây cùng các nhà nước Hồi Giáo quân phiệt. Trong những năm 1970 của thế kỷ trước, CIA đã sử dụng tổ chức Anh Em Hồi Giáo tại Ai Cập làm trường thành ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô cùng sự lan truyền của ý thức hệ Mác-xít trong các quốc gia Ả Rập. Mỹ công khai ủng hộ tổ chức Hồi giáo Sarekat chống Tổng thống Sukarno ở Indonesia, cũng như ủng hộ nhóm Hồi giáo khủng bố Jamaat-e-Islami chống Tổng thống Zulfiqar Ali Bhutto ở Pakistan. Sự thể cứ được lập đi lập lại, và Al Qaeda cũng như ISIS được dựng xây cho cùng một mục đích sử dụng của Mỹ.


Trực thăng Apache Mỹ hộ tống đoàn xe IS
Một máy bay trực thăng (dường như thuộc loại trực thăng tấn công AH-64 Apache của Mỹ) bay sát lề đường quốc lộ, có một đoàn xe chở quân, đang vận chuyển các tay súng của tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo IS.
Tuy nhiên, chiếc Apache này chỉ nghiêng ngó và bay đi bay lại dọc đoạn đường hàng chục xe chở quân của IS đi qua nhưng không tấn công. Xem video người ta có cảm giác chiếc trực thăng này đang…bảo vệ đoàn xe của phiến quân Nhà nước Hồi giáo IS.
Đoạn video cho thấy, một đoàn xe của các phần tử khủng bố IS ồ ạt chạy từ Iraq về Syria mà hoàn toàn không gặp bất cứ một trở ngại nào. Khi đoàn xe đi qua, một chiếc trực thăng tấn công Apache Mỹ bay ở phía sau theo hướng đoàn xe nhưng không có động thái gì.
Video chiếc trực thăng Mỹ bay theo đoàn xe của IS, chiếc Apache hiện diện trong các thời điểm 1 phút 33 và 2 phút 45.



Vì Sao Là Pháp?

Trong hàng ngũ của ISIS có sự hiện diện của các thành viên lực lượng đặc nhiệm Anh và nhiều nước Phương Tây khác, trong đó có Pháp. Cả Mỹ và Pháp – tất nhiên có Anh, Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia, Qatar, và Israel, v.v. – đều tài trợ cho các tổ chức khủng bố thuộc Al Qaeda tại Syria và Iraq, bao gồm cả các thực thể mang tên Nhà Nước Hồi Giáo IS và Al Nusra. Cụ thể hơn, Pháp từng trở thành quốc gia đầu tiên của khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương NATO trực tiếp cung cấp vũ khí cho phiến quân Libya LIFG thuộc Al Qaeda nhằm lật đổ Tổng thống Gadafi của Libya, và không quân Pháp theo lịnh của Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã bảo vệ cho các quân đoàn khủng bố được rảnh tay gây ra những cuộc diệt chủng khủng khiếp trên bộ. Đầu năm 2013, Pháp cung cấp vũ khí cho các phiến quân ở Syria, bao gồm cả Mặt Trận Al Nusra thuộc Al Qaeda mà báo Le Monde của Pháp dùng xảo ngữ xảo ngôn gọi là “phe nổi dậy ôn hòa”, sự việc mà Oxfam cho rằng Anh và Pháp phải chấm dứt ngay vì vũ khí càng được cung cấp cho các phe nổi dậy ở Syria thì càng đẩy cao số thương vong của dân lành và làm phân rã Syria. Hiện nay ISIS đã bắt tay cùng Al Nusra. Vũ khí Mỹ đã được hợp sức cùng vũ khí Pháp một cách tuyệt hảo, đầy chính danh chính nghĩa và chính đạo kiểu Tây.

Sự tham chiến tích cực và hiệu quả của Nga mới đây trong các cuộc không kích quy mô lớn, tối tân, hiện đại, vào các trận địa chủ lực của IS tại Syria trong khi liên minh quân sự Phương Tây ra sức bảo vệ chở che cho IS đã khiến liên minh quân sự này bối rối, một mặt tung truyền thông về cái gọi là Nga chỉ tập trung tấn công “phe nổi dậy ôn hòa”, một mặt buộc phải tham gia không kích IS, và một mặt tạo dư luận. Chính sự tạo dư luận này mà có cuộc tấn công tại Paris tuần qua.

Pháp là nạn nhân của IS dù là nhà tài trợ cấp nhà nước cho IS thuộc Al Qaeda.

Phải chăng Pháp tình nguyện hy sinh dân chúng để đạt chính nghĩa rằng liên minh quân sự các nước Phương Tây do Mỹ lãnh đạo tuy chỉ mới thực sự tham gia không kích cùng Nga tại Syria nhưng đã đạt được kết quả to lớn đến độ IS phải ra tay rửa hận?

Phải chăng Pháp tình nguyện hy sinh dân chúng để cứu giúp toàn khối EU thoát gánh nặng dân tị nạn, vì rằng vụ tấn công Paris đã tạo điều kiện cho Pháp và các nước EU thực hiện kế sách đóng cửa biên giới?

Phải chăng Pháp tình nguyện hy sinh dân chúng để một lần nữa làm sống dậy làn sóng Islamophobia chống lại Đạo Hồi?

Vào tháng 1 năm 2015 khi xảy ra vụ tấn công Charlie Hebo, đã có thông tin bị tiết lộ rằng các cơ quan an ninh Pháp đã theo dõi kẻ thủ ác trong cả một thập kỷ, đã từng bắt một trong hai kẻ thủ ác đó ít nhất hai lần, tống giam hắn ít nhất một lần, theo dõi cả hai ra hải ngoại đến tận nơi chúng được huấn luyện bởi các tổ chức khủng bố, và tham gia chiến đấu bên cạnh các tổ chức này tại Syria trước khi trở về Pháp; với điều gây kinh ngạc là các cơ quan an ninh Pháp xếp xó hồ sơ để yên cho cuộc thảm sát xảy ra.

Khi vụ tấn công Paris xảy ra tháng 11 năm 2015, người ta lại ngạc nhiên trước việc cơ quan an ninh Pháp cũng đã biết về những kẻ thủ ác từ trước đây nhiều năm. Biết mà vẫn cứ để yên như giữ một quân bài cho thời khắc cần đến mang tính địa chính trị chứ không vì sự an nguy của người dân. Nắm giữ quân bài tài trợ cho ISIS và nắm giữ quân bài về những tên khủng bố nội địa có dính dáng với ISIS chính là trò chơi quyền lực của các chính khách Pháp.

Dù vai trò của Pháp nhỏ nhoi trong ván cờ bạo lực của Mỹ ở Trung Đông, ISIS vẫn tấn công Paris, và đây không phải là chuyện bình thường, cứ như thể Nga chẳng ra chi trong cuộc chiến tại Syria, còn Mỹ thì quá mạnh để có thể trực tiếp dạy Mỹ một bài học để báo oán vậy. Chưa kể, ISIS dường như đủ khôn để nhận ra rằng chính cuộc di tản ồ ạt của dân Syria vào Châu Âu hiện nay mới là đòn chí tử đánh vào “kẻ thù” Phương Tây, chứ không phải gây ra một cuộc tấn công nhỏ để kẻ thù này có cớ đóng cửa biên giới. Từ đây cho ra quan ngại trên nền Thuyết Giả Định rằng để nhanh chóng đè bẹp sự trỗi dậy “bài EU” tức phong trào anti-EU của Đảng Pegida tại Đức, Đảng Độc Lập của Anh, và Mặt Trận Quốc Gia do Marine Le Pen đang dẫn đầu tại Pháp, một biến cố “tấn công Paris” trở nên cần thiết và nhất thiết phải để cho xảy ra để đảng cầm quyền các nước có thể tiếp tục thu nhiều phiếu trong kỳ bầu cử sắp tới.

ISIS Đứng Sau Vụ Tấn Công Paris, Vậy Ai Đứng Sau ISIS?

ISIS đã tồn tại một cách đầy thần thoại với siêu năng lực thoại thần: bất kể các chiến dịch quân sự ở Syria, Iraq, Hezbollah của Lebanon, hay sức mạnh của Iran và gần đây là của quân lực Nga, mặc cho toàn cầu có chung sức chống khủng bố một cách mạnh mẽ, quyết liệt, v.v., tất cả chỉ chứng minh được mỗi một điều: ISIS nhận được sự tài trợ cực kỳ khổng lồ mang tính đa quốc gia, trong đó Mỹ là một thực thể đầy quyền năng thông qua đối tác truyền thống lâu đời nhất và hùng mạnh nhất của Mỹ trong khu vực là Saudi Arabia. Chỉ cần xem tương quan lực lượng tại Syria giữa một bên ủng hộ chế độ hiện hữu của chính quyền Tổng Thống Bashar al Assad gồm Nga, Trung Quốc, và Iran, và một bên ủng hộ sự lật đổ chính quyền Tổng Thống Bashar al Assad của các nước Phương Tây, các quốc gia Vùng Vịnh và Thổ Nhĩ Kỳ, cũng đủ thấy ISIS sẽ mãi tồn tại từ nguồn tài trợ khủng khiếp đó. Chỉ cần nhìn vào bản đồ chiến sự giữa các phe nhóm tại Syria hiện nay, người ta dễ nhận ra rằng Nhà Nước Hồi Giáo rõ ràng không là một Nhà Nước mà là sự xâm lược từ nội địa quốc gia thành viên NATO Thổ Nhĩ Kỳ lấn sang hình thành vành đai dọc theo biên giới Thổ Nhĩ Kỳ – Syria, nhất là khi đó lại là vành đai để tiếp tế vũ khí và hậu cần cho ISIS, dù cho vành đai này ngày càng co rúm lại và mất tính vững chãi từ sự tham chiến đầy dứt khoát, mạnh mẽ, hiệu quả, nhanh chóng của Nga và Syria, đẩy lùi dần ISIS về phía biên giới Thổ Nhĩ Kỳ.

Cũng lại tương tự như Al Qaeda, ISIS ra tay đập lại chủ nhân ông của chúng bằng chính chiến thuật cùng vũ khí tối tân hạng nặng của vị chủ nhân ông này, bắt đầu bằng việc cắt đầu các nhà báo Mỹ, rồi vươn ra chiếm hữu phần đất nay đã rộng bằng diện tích Vương Quốc Anh.

Có thể nói rằng bản thân cuộc chiến tranh của Mỹ chống khủng bố chính là một cuộc chiến tranh khủng bố được tiến hành trên quy mô rộng lớn hơn với vũ khí hiện đại bậc nhất để chống lại một tập thể khủng bố mà Mỹ đã dày công xây dựng chính quy hiện đại bậc nhất mà thôi.
---------

Nguồn: ĐBQH. Hoàng Hữu Phước,
Thạc-sĩ Kinh-doanh Quốc-tế

Share:

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

MỐI QUAN HỆ PHẬT GIÁO - TÔN GIÁO - CHỦ NGHĨA MÁC - KHOA HỌC HIỆN ĐẠI

THANH TÙNG NGUYỄN
Mới nhìn tên bài ai cũng tưởng bài viết này mang một tư tưởng mê tín [1]dị đoan, nhưng thực chất nội dung trong bài chúng tôi xin trình bày mối liên hệ biện chứng, khoa học và có thật giữa các tư tưởng lớn. Để nhìn nhận sâu sát hơn nội dung vấn đề sẽ nêu, chúng ta phải bỏ định kiến đã có hạn hẹp về không gian, thời gian và cuộc sống mới thâm nhập được vào giáo lý đó, từ đó thấy được điểm khác biệt giữa các giáo lý với nhau. Ngày nay, nhiều nghi thức Tôn giáo, Phật giáo, triết học của Chủ nghĩa Mác đang phát triển theo hướng xa dần các tư tưởng căn bản giáo môn này mang mục đích riêng, Mác gọi đó là hình thức tôn giáo. Với hiểu biết còn rất hạn hẹp, xong để mọi người ít bị hình thức của các môn giáo trên dẫn dắt, chúng tôi xin nêu một số tổng quan, khái lược các môn giáo này và mối quan hệ với chúng, theo thế giới quan rộng đến hẹp, từ tổng quát đến cụ thể.

Mục đích của Phật giáo cũng như tất cả các tôn giáo, triết học và khoa học cũng nhằm giải thích các hiện tượng của thiên nhiên, vũ trụ và sự sống con người. Trong những thắc mắc đó, câu hỏi đầu tiên của khoa học, triết học, tôn giáo qua nhiều thế hệ vẫn là: con người từ đâu đến, sau khi chết đi về đâu? Vũ trụ hình thành như thế nào? Vật chất có trước hay ý thức có trước; Trong vũ trụ có phải chỉ có nhiều thế giới khác không hay địa cầu là duy nhất không? Quy luật, nguyên lý, nguyên tắc cấu tạo của vũ trụ này là gì? Vạn vật biến đổi theo nguyên lý nào?

Ta hãy tìm hiểu từ Phật giáo, vì giáo lý nhà Phật là bao trùm tất cả không gian, thời gian và pháp giới. không phải bậc thần linh kỳ bí nào, mà chỉ Người thầy giác ngộ mang giáo lý để giáo dục chúng sinh con đường phá mê, khai ngộ, thành Phật, Thành Bồ tát. Giáo lý Nhà Phật rất cao, rất rộng, không phải chỉ do hiểu không mà có được mà phải có hành, giải tương ứng. Cho nên chỉ người có tu mới có chứng, có ngộ được giáo lý vi diệu đó. Vì thế, trong các kệ khai Kinh, các Đại đức xưa thường tán thán Phật “Bậc đại giác ngộ, bậc thầy trời người, bậc khéo giáo hóa, bậc cứu độ đời”. Nên phật giáo là nền giáo dục viên mãn nhất, độ khắp vạn vật chúng sinh trong khắp hư không pháp giới tức vũ trụ này để thành Phật. Do đó câu đầu trong Tứ Hoàng thệ nguyện của Phật là: ”Chúng sinh vô biên thề nguyên độ”.


I . Những điều Phật dạy về vũ trụ, nhân quả, con người và 10 Pháp giới sau khi chết.



1. Phật giảng về Vũ trụ [2]: Phật dạy hư không pháp giới này chỉ gồm hai pháp giới: (1) nhất chân pháp giới và (2) thập pháp giới do tâm Phật và tâm chúng sinh biến hiện ra. Trong Kinh Hoa nghiêm viết:10 pháp giới y chánh trang nghiêm, duy tâm sở hiện (hiện nhất chân pháp giới); duy thức sở biến ( biến ra thập Pháp giới).

Nhất chân pháp giới là thế giới của tự tánh chúng ta, của Chư phật, Chư Bồ tát từ đẳng giác trở lên. Thập pháp giới lại chia thành 10 pháp giới khác nhau: là thế giới tứ thánh quả vị từ Phật [3], Bồ tát, Thánh Văn, Duyên Giác và Lục đạo luân hồi: Trời, Atula, Người, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục từ cao trở xuống thấp. Trong mỗi cõi của Thập pháp giới lại có vô số cảnh riêng của từng cảnh. Ví dụ: cảnh trời có 28 tầng từ: Trời dục giới, sắc giới, vô sắc giới; cảnh người có: đế vương, trưởng giả, bần hàn; súc sinh có: chó, mèo, chim cá, ruồi muỗi v.v...; Địa ngục có: 10 cửa và 28 tầng: Thập đại diêm vương và A tỳ địa ngục, Vô gián địa ngục vv...

Phật nói, khởi nguồn của sinh vật và vũ trụ là tự tánh. Cảnh giới trong vũ trụ này hết thảy đều từ tự tánh [4] biến hiện ra, nên gọi là “Duy Tâm sở hiện”. Vật hữu tình có Phật tánh, vật vô tình (thực vật, khoáng vật) có Pháp tánh. Tự tánh của tất cả chúng sinh [5] tạo ra vũ trụ, thiên hà, đại thiên hà vv.. Tự tánh chúng sinh đồng một bản thể, tự tánh không có tướng. Hoàn cảnh tự nhiên trên trái đất như: lũ lụt, thiên tai, bão tố, động đất, nóng, lạnh do cộng nghiệp [6] chúng sinh (chủ yếu con người) đang sống trên địa cầu này tạo ra, tức là do tâm ý thức của chúng sinh quyết định. Vì thế nhà Phật nói “Duy thức sở biến” là ở chỗ này.

2. Tự Tánh là gì: trong thân mỗi người chúng ta (tất cả chung sinh hữu tình) đều có phật tánh, khi bị mê, Phật gọi là thần thức (hay theo tôn giáo khác là linh hồn). Trong chúng sinh vô tình như thực vật, khoáng vật có Pháp tánh. Phật tánh, Pháp tánh đều là Tánh. Tánh mang nhiều nội dungsâu, rộng, nhưng tánh đơn giản nhất, nói chung ta thường thấy trong tất cả chúng sinh (hữu tình và vô tình [7]) là: kiến, văn, giác, tri (tạm dịch là tính thấy, tính nghe, tính xúc giác, tính biết). Ở các loài khác nhau, kiến, văn, giác, tri có các mức độ rõ ràng và mờ nhạt khác nhau. Tâm con người càng thanh tịnh [8] bao nhiêu, kiến, văn, giác, tri của con người càng lớn bấy nhiêu. Khi một người tu đến mức rất cao, đại định họ có thần thông xuất hiện, trong nhà Phật hay nói xuất hiện thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông vv...Họ sẽ nhìn thấy, nghe thấy tiếng người âm (cõi ngạ quỷ) [9]. Tính nhìn mới giúp cho con người nhìn thấy cảnh vật, còn mắt chỉ là cơ quan truyền đạt tín hiệu mà thôi. Điều này trong thực tế được minh chứng rất nhiều do những người chết lâm sàng rồi sống lại kể: khi thần thức của họ ra khỏi cơ thể, họ nhìn thấy tất cả mọi người xung quanh đang xem họ, cấp cứu thân xác họ, điều này khẳng định sự biết vẫn còn nguyên khi hồn lìa khỏi xác.

3.Phật giảng về cấu tạo con người (kể cả các loài vật hữu tình): con người gồm 2 phần tâm thức [10] và thể xác hợp thành (tôn giáo khác thường gọi là linh hồn và thể xác). Thể xác tuân theo quy luật vạn vật là: thành, trụ, hoại, không, nên thân thể có: sinh, lão, bệnh, tử; còn tâm thức không bao giờ mất đi chỉ biến đổi trong mê và ngộ ở mức độ khác nhau. Tâm thức còn trong thể xác thì cơ thể còn sống, tâm thức ra khỏi thể xác thì cơ thể phân hủy, cơ thể chết. Sau khi thể xác chết rồi, tâm thức (linh hồn) lại đi tìm một cái thân khác [11]để trú ngụ hay đầu thai lại làm người, tùy theo nghiệp lực dẫn dắt. Người làm nhiều điều ác, sinh vào 3 đường ác: địa ngục, ngả quỷ, súc sinh. Người làm nhiều điều thiện (tu thập thiện nghiệp đạo) sinh về 3 cõi: người, quỷ thần, trời [12]. Về sáu cõi này thân, tâm vẫn có sinh, có tử: nên trong phật pháp gọi là 6 cõi “sinh tử luân hồi”, tuy nhiên đáng sợ nhất là 3 đường ác nêu trên.

Nếu người nào còn biết tu pháp Tứ diệu đế thành Thanh văn (ALahán), còn biết tu pháp Thập nhị nhân duyên thành Duyên giác (Bích Chi Phật), tu lục độ Balamật thành quả vị Bồ tát. Đây gọi là 3 quả vị thánh, đưa thần thức thoát khỏi sinh tử luân hồi. Hai quả vị đầu gọi là tu tiểu thừa, quả vị Bồ Tát gọi là phép tu đại thừa viên mãn. Phật khuyến tấn chúng sinh phát tâm đại bi rộng lớn cứu độ chúng sinh trong các cõi ra khỏi sinh tử luân hồi để đạt quả vị Bồ tát [13].

Bồ tát tu đạt Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Lúc này, chúng ta đã quay trở lại với tự tánh [14] trong chính chúng ta. Phật nói “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành” là ở lý này. Khác hẳn với các tôn giáo khác, chỉ tôn vinh một vị thần linh bậc nhất của tôn giáo đó [15], trong khi Phật giáo chỉ ra ai cũng có thể thành Phật [16].

4. Phật giảng quy luật của vũ trụ: Phật nói “Vạn Pháp giai không, nhân quả bất không”. Do đó, theo nhà Phật mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều do nhân duyên sinh ra không có thực thể ban đầu nên gọi đó là không và chỉ có duy nhất luật Nhân quả bất không. Trong vũ trụ ngoài cái thật ta trường tồn, có một điều luôn tồn tại là luật Nhân quả. Từ quy luật này, Phật giảng cho sinh hiểu rõ nhân quả, theo đó mà tu hành, không cầu xin ở các Ngài (các Chư Phật, Chư Bồ Tát) mà cũng được như ý, đó là theo đạo lý gieo nhân nào gặt quả ấy mà thôi. Phật từ trong cuộc sống con người mà giác ngộ, nên rất thấu hiểu chúng sinh hiện nay đang mong cầu những gì? đó là: cầu tiền tài; cầu có sức khỏe và sống lâu; cầu có trí tuệ; cầu giải thoát sau khi chết. Phật từ bi, theo nhân quả chỉ ra 4 quy luật bất di bất dịch của vận vật vũ trụ: (1) Muốn giàu, có địa vị (có tài lộc) phải biết bố thí tài; (2) muốn khỏe mạnh sống lâu phải bố thí vô úy (phóng sinh và ăn chay); (3) muốn thông minh, chí huệ phải bố thí phật pháp (đem phật pháp giảng cho mọi người); (4) muốn thành Phật phải chuyên tâm niệm AdiđàPhật. Trong các Kinh thường có những câu chuyện cổ, Phật kể về hiện báo, hậu báo của luật nhân quả này. Cho nên cổ nhân,Đại Đức xưa đã tổng kết: nhân duyên quả báo tơ hào không sai. Giống như là người trồng dưa thì thu đượcdưa, người trồng đậu thu được đậu, đó là đạo lý. Chúng sinh tạo nhân tốt, khi gặp duyên sẽ nhận quả tốt và ngược lại chúng sinh tạo nhân ác, khi gặp duyên sẽ nhậnđược quả ác, chỉ có điều sớm hay muộn mà thôi - đó là chân lý nhất định. Tuy nhiên ta cũng phải biết Luật Nhân-quả thông suốt 3 đời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Nếu quả nhận ngay trong đời này gọi là quả hiện báo, nếu đời sau nhận gọi là quả hậu báo. Đây là quy luật tổng quát nhất của vạn vật, vũ trụ mà không chỉ có Phật giáo, mà cả triết học và các tôn giáo khác cũng chỉ ra. Tuy nhiên, các tôn giáo, triết học, khoa học mới chỉ nói được quy luật nhân quả trong phạm vi nhỏ bé của nghiên cứu, hay đạo lý của tôn giáo mình.

5. Về nhân duyên gia đình, xã hội: Vợ chồng, con cái, đồng nghiệp đến với nhau đều quy về 4 nhân duyên: đền ơn, báo oán, đòi nợ, trả nợ. Con hiếu dưỡng, chăm sóc cha mẹ là đền ơn; con thường xuyên nuôi nấng, cúng dường tiền cho cha mẹ là trả nợ; con tiêu tiền của cha mẹ là đòi nợ, con ngược đãi cha mẹ là báo oán.

6. Về quan điểm Thiện– Ác trong Phật giáo, Khổng giáo:

+ Khổng tử nói về người tốt và người xấu: người được mọi người yêu thích chưa hẳn là người tốt; người bị mọi người ghét bỏ chưa hẳn là người xấu; Người được người tốt quý, người xấu ghét là người tốt; người được người xấu quý, người tốt ghét là người xấu.

+ Phật nói về hành động thiện và hành động ác. Hành động (từ ý nghĩ đến lời nói và việc làm) đều xuất phát từ lợi ích cho đại đa số chúng sinh là việc làm thiện; ngược lại hành động chỉ vì mình là ác. Còn nếu vì mình mà tổn hại đại đa số chúng sinh là đại ác. Các đại đức cũng nói đạo lý trên như sau: chỉ có đạo lý lợi người thì lợi mình, hại người tất hại mình. Đạo lý hại người lợi mình là giả và không có thật, vì hưởng rất ngắn, chẳng qua chưa kịp nhận quả mà thôi.

7. Về nghiệp lực: những ý nghĩ, hành động, lời nói của chúng ta hàng ngày tạo ra nghiệp nhân của thân, khẩu, ý. Các sự việc lành, dữ ta sẽ nhận là quả báo hay nghiệp báo. Cảm giác vui, buồn, đau khổ, sợ hãi vv... gọi là thọ báo. Tạo nghiệp ác, nhận quả báo ác, tạo nghiệp thiện, nhận quả báo thiện [17] là chân lý. Nghiệp có quá khứ đã tạo và hiện tại đang tạo. Nghiệp do thân, khẩu,ý tạo nên, quả báo cũng theo đó mà hưởng. Nghiệp ác của ý là tham, sân, si, mạn ( kiêu mạn) nghi, đối kỵ, ích kỷ, tự tư, tự lợi thì quả báo là 3 đường ác. Quả báo tâm tham là ngạ quỷ, quả báo của tâm sân hận, thù địch là địa ngục, quả báo của tâm si mê [18] (không hiểu gì phật pháp) là súc sinh. Tạo nghiệp thiện thì ngược lại không tham không sân, không si v...v... sẽ về cõi người, quỷ thần, trời.

8. Phương pháp giải nghiệp: giải nghiệp thường phải có tâm hổ thẹn và lòng sám hối, quyết không tái phạm. Nghiệp của chúng sinh do thân, khẩu, ý sinh ra. Nghiệp kết tập nhiều đời, nhiều kiếp thành khối nghiệp khổng lồ. Làm thế nào để sám trừ nghiệp trướng? có nhiều cách, xong cách dễ nhất chỉ cần chuyên tâm niệm câu "Nam mô A di đà phật" thường xuyên chân thành, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn giải được 80 ức [19] kiếp nghiệp sinh tử trọng tội. Lợi lạc to lớn hơn của Pháp môn Niệm Phật (tức pháp môn Tịnh độ) là khi lâm chung, nếu niệm được 1 đến 10 niệm, nhất tâm bất loạn, Phật ADIĐÀ cùng Ngài QUAN THẾ ÂM và ĐẠI THẾ CHÍ cùng Chư Thiên hiện ra, đón người đó về cõi Cực lạc của đức Phật Adiađà [20] theo đúng 48 đại nguyện của Phật Adiđà [21].

9. Tu hành là gì: tu hành không phải cắt tóc vào chùa [22] mà tu hành là tu sửa hành vi sai quấy của mình để quay lại với tự tánh vốn có tức Phật tánh của tất cả chúng sinh. Tu hành có 4 loại: tâm xuất gia, thân cũng xuất gia (người xuất gia chân chính); thân xuất gia, tâm không xuất gia (là tà sư); thân không xuất gia,tâm xuất gia (cư sỹ tại gia); thân không xuất gia, tâm không xuất gia (người phàm). Hiện nay có khoảng 10 Tông môn khác nhau, nhưng quy tụ về 3 môn phái chính của Phật giáo: là Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông.


II. Phật giáo, các tôn giáo khác và huyền học:



1. Phật giáo: Chữ “Phật” trong tiếng Phạn là chỉ người đại giác ngộ. Đại giác ngộ chỉ những người thấu hiểu tất cả, thông suốt,tường tận chân lý của vạn vật trong vũ trụ và nhân sinh. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Đại định 49 ngày đã khai mở trí huệ, nhờ đó ngài có năng lực siêu việt, đại ngộ đã thấu suốt tất cả chân tướng, nguyên lý, nguyên tắc trong vũ trụ,nhân sinh. Vũ trụ mà Phật nói đến tận hư không (rộng lớn hơn đại thiên hà) và tất cả cảnh giới hiện đang tồn tại quanh môi trường ta đang sống (phật, trời, người, thần, quỷ, ma, súc sinh, địa ngục vv...) mà mắt thường không thể nhìn thấy được. Trong 49 năm thuyết Pháp, Phật mang những cảnh giới trên giới thiệu tường tận cho các đệ tử, chúng ta biết được những điều này thông qua Kinh của Phật. Phật giáo, thực chất là nền giáo dục viên mãn, giúp con người cách phá mê, khai ngộ, thoát ly sinh tử, lìa khổ, được vui, trường tồn vĩnh viễn. Phật giáo không mê tín [23], nhưng do một số người truyền đạt lại tư tưởng Đạo Phật không đầy đủ, tường tận, dẫn con người đến hành động mê lầm không tu dưỡng mà chỉ cầu xin cúng bái. Phật giáo không phải tôn giáo, Phật không bảo mọi người cầu xin ở Phật, ở Bồ tát mà tin vào giáo lý của Phật thuyết ra [24], để hiện thực nó trong cuộc sống, sẽ được an vui, hạnh phúc mãi mãi. Do đâu có được điều này, Phật nói do chúng ta đang sống theo quy luật tự nhiên mà có. Tu hành là cầu tự tánh của chính mình, của vũ trụ nên tâm hành giả tương ứng [25] với Tâm Phật, Tâm Bồ tát mọi sự cầu này chắc chắn phải linh.

2. Kito Giáo: Giêsu –Kito ra đời khoảng đầu công nguyên. Năm 30 tuổi, ông bỏ nhà ra đi truyền bá những tư tưởng của mình về một tôn giáo mới 3 năm khác với  Do Thái giáo. Sau khi ông qua đời, Kito giáo được hình thành. Theo Kito giáo: Thiên Chúa là đấng tối cao, sáng tạo ra vũ trụ, trời đất, muôn loài có cả con người. Thiên Chúa là người có quyền năng, xếp sắp, vận hành trật tự trong vũ trụ và muôn loài. Con người do Thiên chúa tạo ra có: thể xác do vật chất tạo nên và linh hồn là yếu tố thiêng liêng vô hình. Linh hồn có chức năng tạo ra chí tuệ và quyền lựa chọn tự do của con người. Chúa trời cho Giêsu con một của mình xuống chuộc tội với loài người.

- Kinh thánh gồm hai phần: cựu ước vàTân ước.

- Các điều răn dạy: thờ phụng và kính yêu Thiên chúa; thảo kính cha mẹ; tôn trọng sự sống và không giết người; sống trong sạch không trộm cắp tà dâm; sống công bằng; không nói dối; không tham của người.

3. Hồi giáo: tin tưởng Thánh –Ala là thượng đế duy nhất, kiến tạo và điều khiển mọi sự sinh tồn; Thánh Ala đã chiến thắng và chính phục mọi thần linh khác nêntoàn bộ sức mạnh tập trung ở Thánh – Ala. Môhamét được coi là sứ giả của Thánh–Ala và sứ giả anh minh nhất, vĩ đại nhất của các sứ giả. Quan niệm sau khi chết về các cõi thiên thần và ác quỷ, thiên đường và địa ngục. Tu hành có: cầu nguyện, ăn chay theo tháng, cầu nguyện và bố thí để có cuộc sống tương lai nơi thiên đàng, con người mới có căn nhà lưu lại mãi mãi.

Kinh thánh: Kinh Coran

4. Huyền học là gì: nhiều người ngày nay tưởng huyền học là một môn do Phật để lại, vì Phật để lại 84.000 Pháp môn, nhưng không phải. Huyền học là một học cơ cở lý luận do quan sát các hiện tượng của thiên văn, thời tiết, lịch học, nhân học, số học nên lý luận rất sâu xa, huyền diệu như: thuyết âm dương, ngũ hành,chiêm tinh học, tử vi, tướng số, trạch cát, quẻ hào và 12 con giáp, ngày giờ tốt xấu. Đây là lý thuyết do các bậc thánh nhân để lại, lý luận chuyên sâu, tin tưởng thực hành, không cần minh chứng nó coi như định đề hay giả thuyết của toán học,vật lý vv.. Có lẽ nền tảng huyền học là thuật toán, thuật số của các nhà bác học cổ đưa ra. Mục tiêu của nó xây dựng cơ sở cho khoa học dự báo tốt xấu về vận mệnh quốc gia, con người, về thời tiết, về ngày giời, đất cát vv.. Ngày nay một số chùa mang cả nội dung này vào thực hiện trong chùa.

5. Hình thức Phật giáo là gì: Ngày nay nhiều thầy tu xa rời nhiệm vụ của người xuất gia là mang giáo lý nhà Phật giảng dạy cho chúng sinh. Đồng thời phải thường xuyên tu tập đạo hạnh của chính mình để làm gương như Phật, Bồ tát và thiện tri thức. Một số nơi xem nhẹ nhiệm vụ trên, lại sa đà vào xem bói toán, cúng sớ dâng sao giải hạn, xem phong thủy, xem ngày giờ tốt xấu, nhà của đất cát, tâm linh, là công việc của các thầy địa lý, thầy tử vi, thầy cúng, thầy bói. Do đó để chúng sinh đời sau mê lầm coi đó cũng là pháp phật để lại, dẫn chúng sinh không tu hành chỉ thích cầu xin, nên lạc vào con đường ngoại đạo [26].

6. Phật giáo khác với tôn giáo khác ở chỗ nào: Phật giáo là sư đạo, Phật là bậc thầy, chỉ cho chúng sinh hiểu rõ nhân quả, từ đó chỉ ra con đường tu để thành Phật, thành Bồ tát cứu độ chúng sinh đang mê mờ, do không hiểu rõ chân tướng sự thật. Phật giáo là hướng nội, tự tu sửa suy nghĩ, lời nói và hành động để cải tạo cuộc sống và vận mệnh hiện tại, do tu là chuyển nghiệp. Nói xa hơn, quốc gia tu cũng cải tạo vận mệnh quốc gia vì đây là cộng nghiệp. Viên mãn nhất là tu thì thoát khỏi sinh tử luân hồi và thành Bồ tát, thành Phật. Trong khi đó, phần lớn các tôn giáo khác chỉ khuyên con người hãy đặt lòng tin vào một Đấng tối cao là Thượng đế, Ngài tạo nên tất cả vũ trụ và con người. Ngài đã an bài tất cả cho chúng ta, nên khuyên chúng ta hãy cam chịu số mệnh [27] và sống theo lời dạy của ngài để sau khi chết lên thiên đàng [28]. Còn huyền học là môn khoa học dự báo cổ nên nó cũng có mức độ chính xác theo kiểu xác suất, kết quả phụ thuộc thầy tìm lời giải cho bài toán. Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của môn huyền học là không tìm được làm thế nào cải tạo được vận mệnh cho chính mình vì không biết nguyên nhân. ĐạoPhật sẵn sàng cho một lời giải rất mỹ mãn “Tu là chuyển nghiệp – tâm tưởng sự thành”.


III. Triết học, khoa học hiện đại đang làm sáng tỏ được một số điều Phật đã nói:



Phật là người Đại triệt, đại ngộ, Minh tâm, Kiến tánh, nên nhìn thấy tất cả các thế giới trong vũ trụ rộng lớn nhờ nhập Đại định [29], thấy bằng lục thông bằng phật nhãn - tức tâm thức, không phải thấy bằng mắt thường và tâm ý thức[30] của chúng sinh hữu tình.

Trong khi đó, các nhà triết học, một phần có nghiên cứu kinh sách, tôn giáo cổ, một phần tư duy, dùng tâm ý thức tưởng tượng ra, xây dựng nên giáo lý, do đó những giáo lý này có một số nội dung tương đồng, nhưng không thể giải thích được tại sao.

1. Khoa học hiện tại đang làm sáng tỏ một điều Phật đã nói:

Phật nói: Nhất chân pháp giới đồng một bản thể; Mười pháp giới y chánh trang nghiêm, duy tâm sở hiện, duy thức sở biến;

Mác nói: trước khi thế giới là một thể thống nhất, thì trước hết thế giới phải tồn tại đã. Tính thống nhất của thế giới bởi tính vật chất của nó[31]. Sản phẩm cao nhất của vật chất, tức trí tuệ con người [32]; “hiện tượng có vô vàn thế giới trong không gian vô tận” bắt buộc phải thừa nhận là tất yếu.[33]

Phật nói: không gian vô cùng không bờ mé, thời gian là vô tận.

Mác nói: “vấn đề tự nó được giải quyết rõ ràng. cái vĩnh cửu trong thời gian, cái vô tận trong không gian, điều đó đã rõ ráng ngay từ đầu và theo ý nghĩa trực tiếp của các từ ấy” [34].

Phật nói: chung sinh hữu tình gồm có thân xác (do đất, nước, gió, lửa) và thần thức tạo nên. linh hồn còn cơ thể sống, linh hồn ra khỏi, cơt hể chết.

Mác nói: sự sống, sự trao đổi chất diễn ra thông qua dinh dưỡng và bài tiết là mộtquá trình tự lực thực hiện, một quá trình vốn có bên trong bẩm sinh của chất tiêu biểu của nó là abumin, mà không có nó thì chất abumin không thể tồn tại được.Định nghĩa của chúng tôi về sự sống, còn xa mới có thể bao gồm tất cả hiện tượng của cuộc sống, mà trái lại định nghĩa chỉ có giới hạn chung nhất và đơn giản nhất.[35]

Phật nói: Thần thức (linh hồn) của chúng sinh không mất đi mà chỉ đầu luân hồi trong 6 cõi, hoặc nhập vào đường tứ thánh.

Mác nói: Nếu như một ngày kia, nó phải hủy diệt cái tinh thần đang tư duy, thì nó lại phải tất yếu tái sinh cái tinh thần đó ở một nơi khác và trong khoảng thời gian khác.[36]

Phật nói: vạn vật có: thành, trụ, hoại không; có sinh, ắt có diệt.

Mác nói: triết học Hy lạp cho rằng toàn bộ giới tự nhiên từ hạt cát cho đến mặt trời, từ sinh vật nguyên thủy cho đến con người nằm trong tình trạng không ngừng sinh, đang vận động và diệt vong ...chỉ có chỗ khác nhau cơ bản là người Hy lạp dùng trực giác thiên tài, chúng ta là một công trình nghiên cứu khoa học chặt chẽ.[37]

Phật dạy: “tâm tham đọa ngạ quỷ, tâm sân đọa địa ngục, tâm sy đọa súc sinh”. Người ngày nay chết hay làm quỷ nhất vì có tâm tham quá lớn. Cõi ngạ quỷ ta thường hay gọi là ma hay người âm. Hiện tượng gọi hồn, lên đồng là do hồn ma mượn xác người sống làm phương tiện giao tiếp với người đang sống.

Mác viết : “Xuên - nơ đã phát hiện rất nhiều về chiều thứ tư của không gian; ông đã phát hiện rằng có nhiều sự vật, không thể có trong không gian ba chiều, thì trở thành một sự tất nhiên trong một không gian bốn chiều...Tóm lại những phép lạ trong không gian bốn chiều đều được hồn ma hoàn thành dễ như chơi...Nhưng nếu chúng ta giả thiết rằng những bản thông báo ấy phản ánh một cách trung thành kết quả thí nghiệm của Xuên – nơ, thì hiển nhiên là nó mở đầu cho một kỷ nguyên mới trong thần linh học cũng như trong toán học. Các hồn ma đã chứng minh rằng có chiều thứ tư của không gian, cũng như chiều thứ tư đảm bảo rằng có hồn ma.[38]”

Phật nói: Vũ trụ có núi Tu di và xung quang núi Tu di có 4 châu, trái đất của chúng ta là Nam thiện bội châu

Khoa học chứng minh: Vũ trụ có hố đen siêu vật chất nằm giữa các dải thiên hà mà mắt thường không nhìn thấy do sự hấp thụ ánh sáng của hố đen; 

Phật nói: vi trần là những hạt rất nhỏ của trần thế, trong nước có trùng.

Khoa học chứng minh: khoa học chứng minh trong vật chất có điện tử, photong, hạt của chúa rất nhỏ. Khoa học thế kỷ 19 sau khi chế tạo ra kinh hiển vi xem thấy trong nước có rất nhiều vi trùng.

Phật nói: trong cơ thể người một satna [39] có 60 cái sinh diệt.

Khoa học chứng minh: trong cơ thể người một giây có hàng nghìn tế bào già chết đi và thay vào đó có tế bào mới ra đời, mắt thường không thấy được.



2. Giải thích một số hiện tượng nhạy cảm bằng kiến thức Phật học:

- Hiện tượng gọi hồn, tìm mộ dựa trên cơ sở nào:

Đa số người chết thành ma (ngả quỷ), đây là một hình thức tồn tại của thần thức (linh hồn) tồn tại quanh ta, rất gần gũi với cõi người, vì trên cùng địa cầu này. Vì chúng sinh dạng này không có thân xác vật thể như chúng ta, nhưng một số hồn ma rất muốn giao lưu với người thân để trao đổi thông tin. Do đó họ rất muốn mượn thân xác của ai đó để nói ra mong muốn của mình vì lúc sống chưa kịp nói ra. Những người có thần thức yếu dễ bị ma nhập thân, đẩy thần thức mình ra để mượn thân [40] làm việc nêu trên. Trong khi nhập, chủ nhân không biết được gì, sau khi linh hồn thoát ra, cơ thể dần dần tỉnh lại. Một số người có khả năng cho hồn nhập thường xuyên; một số dạng khác lại có khả năng nghe được tiếng người âm, nhìn thấy người âm ban đêm; một số khác lại bịa đặt, đóng giả như người âm nhập như thật để kiếm tiền.

-Tại sao ta không nhìn thấy, sờ thấy người âm (hoặc người cõi khác, trừ cõi súc sinh).

Theo thuyết tương đối hẹp của Anh Xơ Tanh trong vụ trụ: khi một vật chuyển động nhanh hơn tốc độ ánh sáng (300.000.000 mét/giây) thì: thể tích nhỏ lại và bằng không [41], khối lượng bằng không khí (V = C) do đó ta không thể nhìn thấy và sờ thấy họ.

Một lý thuyết nữa Mác đã nói, đó là họ đang tồn tại trong không gian nhiều chiều hơn chúng ta. Khoa học hiện đại ngày nay đã chứng minh trong vũ trụ, không gian có đến 11 chiều [42]. Nhà toán học nổi tiếng Gausơ người Đức, đã bác bỏ nghiên cứu toán học trong không gian 3 chiều, mà đưa ra lý thuyết không gian đa chiều trong toán từ thế kỷ18. Như vậy mỗi cõi hoạt động trong gian duy thứ khác nhau (có số lượng chiều khác nhau), nên không thấy hết nhau. Chỉ có Phật ở không gian cao nhất, thời gian bằng không, thấy tất cả.

- Các Alahán lại nhìn thấy 500 đời trước của mình nhờ khả năng gì: vì họ có khả năng chuyển động nhanh hơn tốc độ ánh sáng, nên di chuyển ngược trục thời gian thì sẽ nhìn thấy các đời quá khứ của mình.

-Tại sao một số người có thuật thôi miên, có linh cảm rất nóng ruột khi người thân bị nạn?

Một số người có khả năng phát sóng tâm mạnh hơn, có thể khống chế thần kinh người khác thực hiện theo ý định của mình. Khi một người bị nạn, trong tâm của họ thường phát ra một thứ sóng tâm (hiểu như sóng điện từ), tác động lên tâm người thân theo nguyên tắc đồng thanh tương ứng (cần ai thì người đó cảm ứng) gây ra cho người thân cảm giác bồn chồn nóng ruột.

- Tại sao một số người cõi trời (thần chất), cõi Tây phương Cực lạc (thánh chất), một số Pháp sư Tây tạng [43] có khả năng biến hiện ra vật chất từ hư không có hình như thức ăn, nhà cửa.

Khoa học lượng tử đã chứng minh, vật chất có hai thuộc tính sóng và hạt. Khi chuyển đổi từ hạt sang sóng (như phản ứng nguyên tử) giải phóng năng lượng cực lớn, vậy khi biến từ sóng (sóng tâm) sang vật chất là một quá trình biến năng lượng thành vật chất. Tuy nhiên khả năng này chỉ có những người trời, có năng lực cao, tạo sóng tâm lớn mới có khả năng biến năng lượng thành vật chất như ý.

Cầu Phật linh ứng do đâu: Ngạn ngữ có câu “Phật ở muôn chung, hữu cầu tất ứng”. Tuy nhiên Cầu Phật phải đúng lý, đúng pháp sẽ linh ứng. Như trên đã nói Phật dạy chúng ta hành theo quy luật của tự nhiên, không cầu xin ở các Ngài. Vì muốn có quả chúng ta đã gieo nhân, các ngài không làm thay được. Khi nhân thiện nhiều, các Ngài tạo duyên thì rất dễ thành quả thiện. Vì thế một số người cầu rất dễ ứng, một số người cầu không linh, do cầu cho tự tư tự lợi, hoặc gieo nhân ít. Ngoài ra còn một số vị Phật, Bồ tát có những lời nguyện riêng như Ngài Quán thế Âm Bồ tát cứu khổ cứu nạn, khi chúng sinh gặp nạn: nước, lửa, tai nạn xe cộ, thú dữ, Phụ nữ thai sản khó cầu tên Ngài NA MÔ QUAN THÊ ÂM BÔ TÁT, Ngài ra tay cứu vớt ngay (gặp linh ứng kỳ diệu), đó là sự thật. Nhưng linh ứng nhất câu NA MÔ ADIĐÀ PHẬT niệm câu này thì 10 thế giới chư Phật đồng hộ niệm, trong đó có cả ngài Quán Thế âm Bồ tát – thị vệ của Phật ADIĐÀ. Có những người nhờ niệm phật khỏi bệnh ung thư, hiểm nghèo là do: (1) niệm Phật giải được nghiệp trướng, trong khi bệnh nan ý do nghiệp tạo nên; (2) các ngài tạo duyên để ta gặp thầy, gặp thuốc; (2) các ngài phát trường sóng tâm, ta thu được khi niệm tên Ngài. Như trên đã nói, sóng này mang năng lượng cực lớn, có tác dụng phục hồi tế bào gốc, nên có khả năng chữa bệnh ung thư, bệnh hiểm nghèo. Nếu ta càng tin, sóng thu được càng mạnh, giống như ta bắt được đúng sóng đài truyền hình, nếu không tin, sóng có nhiễu, hiệu quả kém.

Còn rất nhiều điều của vũ trụ và tự nhiên, con người rất dễ giải thích nếu chúng ta tường tận giáo lý Nhà Phật, từ đó không còn hành động mê tín dị đoan, không thấy những hiện tượng nhạy cảm trên là huyền bí./.


======
Chú thích:

[1] Tin nhưng không hiểu tường tận nó, cứ mơ hồ tin theo.

[2] Không gian không bờ mé gọi là vũ, thời gian không cùng tận gọi là trụ.

[3] Phậtcủa Tạng giáo, tương đương Bồ tát của Pháp môn khác.

[4] Tánh là thể của Tâm, tâm là dụng của tánh.

[5] Chúng ( nhiều) duyên sinh ra gọi là chúng sinh.

[6] Nghiệplực là kết quả vũ trụ trả lại khi chúng ta tạo tác ra do một hành động do thân,khẩu ý của chính mình theo luật nhân quả.

[7] Các nhà khoa học đã chứng minh ở thực vật vàkhoáng vật đều có khả năng nghe, nhìn.

[8] Các tánh Phật: Chân thành, Thanh tịnh, Bình đẳng,Chánh giác, Từ bi.

[9] Nhiều nhà ngoại cảm có khả năng này.

[10] Chính là tự tánh đã mê mờ do tâm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước sinh ra.

[11] Thườnglà thân ngả quỷ, địa ngục thập đại địa ngục, súc sinh hay về cõi quỷ thần (thầnlinh), cõi trời 28 tầng.

[12] Trời cung có đến 28 tầng trời khác nhau do công đức tu hành của mọi người khácnhau.

[13] Bồtát Viên giáo có 41 phẩm vị khác nhau do công đức tu hành.

[14] Phật tánh có nhiều, nhưng cơ bản nhất thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, Từ bi

[15] Ví như các vị Chúa,Thánh, Thần,...

[16] Trong Phật Danh Kinh có 12000 vị Phật, thực tế còn nhiều hơn.

[17] Ví dụ: những người yêu thích, ca ngợi chủnghĩa cá nhân, quả báo là địa ngục; nhữngngười yêu, ca ngợi, hành động vì chủ nghĩa xã hội sẽ sinh lên cõi trời sau khichết.

[18] Những nhà khoa học không tin Phật pháp cũng vẫn gọi là sy mê.

[19] Ức là tỷ, kiếp là vô số đời ( một vòng sinh tử).

[20] Hiện Phật Adidà đang thuyết Pháp ở cõi Tây Phương Cực lạc.

[21] Đây gọi là hiện tượng vãng sinh tịnh độ.

[22] Đây gọi là người xuất gia, chứ không phải người đi tu.

[23] Mê tín là niềm tin không có giáo lý, không được kiểm nghiệm.

[24] Y Pháp bất Y nhân

[25] Thuyết đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.

[26] Ngoại đạo là hướng ra ngoài cầu xin không tu tập chính mình để thay nhân đổi quả.

[27] Đây mới là những tôn giáo mê tín.

[28] Theo giáo lý Nhà Phật, người trời sống rất lâu nhưng chết vẫn đọa địa ngục, vẫntrong sinh tử luân hồi.

[29] Dụng được chân tâm mà hiện lộ tất cả Vũ trụ.

[30] Tâm ý thức là tâm dựa trên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

[31] trang 67

[32] trang 461

[33] Trang 482 tập 20 Mác - Ăng ghen toàn tập.

[34] Trang 75

[35] Trang 121. tập 20

[36] Trang 483

[37] Trang 471

[38] Trang 506 tập 20

[39] Satna là một cái khẩy móng tay, khỏang 1/60 giây.

[40] Xem phim oan hồn của Mỹ để hiểu rõ vấn đề này.

[41] Tiên đề 1 và 3 về co lại của chiều dài và giảm khối lượng trong hệ quy chiếu động.

[42] Nhà vật lý nổi tiếng thế giới người Anh, thế kỷ 21 Stenven Harking chứng minh không gian có 11 chiều.

[43] Xem tác phẩm hành trình về phương đông.


Share:

TÌM KIẾM

ĐỒNG HỒ

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM

  • …

    SỐ LƯỢNG BÀI VIẾT
  • …

    SỐ LƯỢNG BÌNH LUẬN
  • …

    SỐ LƯỢNG NGƯỜI XEM

ĐANG GHÉ THĂM

Người theo dõi