Tri thức là những giọt nước trong đại dương bao la!

Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 5, 2018

MỐI QUAN HỆ PHẬT GIÁO - TÔN GIÁO - CHỦ NGHĨA MÁC - KHOA HỌC HIỆN ĐẠI

THANH TÙNG NGUYỄN
Mới nhìn tên bài ai cũng tưởng bài viết này mang một tư tưởng mê tín [1]dị đoan, nhưng thực chất nội dung trong bài chúng tôi xin trình bày mối liên hệ biện chứng, khoa học và có thật giữa các tư tưởng lớn. Để nhìn nhận sâu sát hơn nội dung vấn đề sẽ nêu, chúng ta phải bỏ định kiến đã có hạn hẹp về không gian, thời gian và cuộc sống mới thâm nhập được vào giáo lý đó, từ đó thấy được điểm khác biệt giữa các giáo lý với nhau. Ngày nay, nhiều nghi thức Tôn giáo, Phật giáo, triết học của Chủ nghĩa Mác đang phát triển theo hướng xa dần các tư tưởng căn bản giáo môn này mang mục đích riêng, Mác gọi đó là hình thức tôn giáo. Với hiểu biết còn rất hạn hẹp, xong để mọi người ít bị hình thức của các môn giáo trên dẫn dắt, chúng tôi xin nêu một số tổng quan, khái lược các môn giáo này và mối quan hệ với chúng, theo thế giới quan rộng đến hẹp, từ tổng quát đến cụ thể.

Mục đích của Phật giáo cũng như tất cả các tôn giáo, triết học và khoa học cũng nhằm giải thích các hiện tượng của thiên nhiên, vũ trụ và sự sống con người. Trong những thắc mắc đó, câu hỏi đầu tiên của khoa học, triết học, tôn giáo qua nhiều thế hệ vẫn là: con người từ đâu đến, sau khi chết đi về đâu? Vũ trụ hình thành như thế nào? Vật chất có trước hay ý thức có trước; Trong vũ trụ có phải chỉ có nhiều thế giới khác không hay địa cầu là duy nhất không? Quy luật, nguyên lý, nguyên tắc cấu tạo của vũ trụ này là gì? Vạn vật biến đổi theo nguyên lý nào?

Ta hãy tìm hiểu từ Phật giáo, vì giáo lý nhà Phật là bao trùm tất cả không gian, thời gian và pháp giới. không phải bậc thần linh kỳ bí nào, mà chỉ Người thầy giác ngộ mang giáo lý để giáo dục chúng sinh con đường phá mê, khai ngộ, thành Phật, Thành Bồ tát. Giáo lý Nhà Phật rất cao, rất rộng, không phải chỉ do hiểu không mà có được mà phải có hành, giải tương ứng. Cho nên chỉ người có tu mới có chứng, có ngộ được giáo lý vi diệu đó. Vì thế, trong các kệ khai Kinh, các Đại đức xưa thường tán thán Phật “Bậc đại giác ngộ, bậc thầy trời người, bậc khéo giáo hóa, bậc cứu độ đời”. Nên phật giáo là nền giáo dục viên mãn nhất, độ khắp vạn vật chúng sinh trong khắp hư không pháp giới tức vũ trụ này để thành Phật. Do đó câu đầu trong Tứ Hoàng thệ nguyện của Phật là: ”Chúng sinh vô biên thề nguyên độ”.


I . Những điều Phật dạy về vũ trụ, nhân quả, con người và 10 Pháp giới sau khi chết.



1. Phật giảng về Vũ trụ [2]: Phật dạy hư không pháp giới này chỉ gồm hai pháp giới: (1) nhất chân pháp giới và (2) thập pháp giới do tâm Phật và tâm chúng sinh biến hiện ra. Trong Kinh Hoa nghiêm viết:10 pháp giới y chánh trang nghiêm, duy tâm sở hiện (hiện nhất chân pháp giới); duy thức sở biến ( biến ra thập Pháp giới).

Nhất chân pháp giới là thế giới của tự tánh chúng ta, của Chư phật, Chư Bồ tát từ đẳng giác trở lên. Thập pháp giới lại chia thành 10 pháp giới khác nhau: là thế giới tứ thánh quả vị từ Phật [3], Bồ tát, Thánh Văn, Duyên Giác và Lục đạo luân hồi: Trời, Atula, Người, Súc sinh, Ngạ quỷ, Địa ngục từ cao trở xuống thấp. Trong mỗi cõi của Thập pháp giới lại có vô số cảnh riêng của từng cảnh. Ví dụ: cảnh trời có 28 tầng từ: Trời dục giới, sắc giới, vô sắc giới; cảnh người có: đế vương, trưởng giả, bần hàn; súc sinh có: chó, mèo, chim cá, ruồi muỗi v.v...; Địa ngục có: 10 cửa và 28 tầng: Thập đại diêm vương và A tỳ địa ngục, Vô gián địa ngục vv...

Phật nói, khởi nguồn của sinh vật và vũ trụ là tự tánh. Cảnh giới trong vũ trụ này hết thảy đều từ tự tánh [4] biến hiện ra, nên gọi là “Duy Tâm sở hiện”. Vật hữu tình có Phật tánh, vật vô tình (thực vật, khoáng vật) có Pháp tánh. Tự tánh của tất cả chúng sinh [5] tạo ra vũ trụ, thiên hà, đại thiên hà vv.. Tự tánh chúng sinh đồng một bản thể, tự tánh không có tướng. Hoàn cảnh tự nhiên trên trái đất như: lũ lụt, thiên tai, bão tố, động đất, nóng, lạnh do cộng nghiệp [6] chúng sinh (chủ yếu con người) đang sống trên địa cầu này tạo ra, tức là do tâm ý thức của chúng sinh quyết định. Vì thế nhà Phật nói “Duy thức sở biến” là ở chỗ này.

2. Tự Tánh là gì: trong thân mỗi người chúng ta (tất cả chung sinh hữu tình) đều có phật tánh, khi bị mê, Phật gọi là thần thức (hay theo tôn giáo khác là linh hồn). Trong chúng sinh vô tình như thực vật, khoáng vật có Pháp tánh. Phật tánh, Pháp tánh đều là Tánh. Tánh mang nhiều nội dungsâu, rộng, nhưng tánh đơn giản nhất, nói chung ta thường thấy trong tất cả chúng sinh (hữu tình và vô tình [7]) là: kiến, văn, giác, tri (tạm dịch là tính thấy, tính nghe, tính xúc giác, tính biết). Ở các loài khác nhau, kiến, văn, giác, tri có các mức độ rõ ràng và mờ nhạt khác nhau. Tâm con người càng thanh tịnh [8] bao nhiêu, kiến, văn, giác, tri của con người càng lớn bấy nhiêu. Khi một người tu đến mức rất cao, đại định họ có thần thông xuất hiện, trong nhà Phật hay nói xuất hiện thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông vv...Họ sẽ nhìn thấy, nghe thấy tiếng người âm (cõi ngạ quỷ) [9]. Tính nhìn mới giúp cho con người nhìn thấy cảnh vật, còn mắt chỉ là cơ quan truyền đạt tín hiệu mà thôi. Điều này trong thực tế được minh chứng rất nhiều do những người chết lâm sàng rồi sống lại kể: khi thần thức của họ ra khỏi cơ thể, họ nhìn thấy tất cả mọi người xung quanh đang xem họ, cấp cứu thân xác họ, điều này khẳng định sự biết vẫn còn nguyên khi hồn lìa khỏi xác.

3.Phật giảng về cấu tạo con người (kể cả các loài vật hữu tình): con người gồm 2 phần tâm thức [10] và thể xác hợp thành (tôn giáo khác thường gọi là linh hồn và thể xác). Thể xác tuân theo quy luật vạn vật là: thành, trụ, hoại, không, nên thân thể có: sinh, lão, bệnh, tử; còn tâm thức không bao giờ mất đi chỉ biến đổi trong mê và ngộ ở mức độ khác nhau. Tâm thức còn trong thể xác thì cơ thể còn sống, tâm thức ra khỏi thể xác thì cơ thể phân hủy, cơ thể chết. Sau khi thể xác chết rồi, tâm thức (linh hồn) lại đi tìm một cái thân khác [11]để trú ngụ hay đầu thai lại làm người, tùy theo nghiệp lực dẫn dắt. Người làm nhiều điều ác, sinh vào 3 đường ác: địa ngục, ngả quỷ, súc sinh. Người làm nhiều điều thiện (tu thập thiện nghiệp đạo) sinh về 3 cõi: người, quỷ thần, trời [12]. Về sáu cõi này thân, tâm vẫn có sinh, có tử: nên trong phật pháp gọi là 6 cõi “sinh tử luân hồi”, tuy nhiên đáng sợ nhất là 3 đường ác nêu trên.

Nếu người nào còn biết tu pháp Tứ diệu đế thành Thanh văn (ALahán), còn biết tu pháp Thập nhị nhân duyên thành Duyên giác (Bích Chi Phật), tu lục độ Balamật thành quả vị Bồ tát. Đây gọi là 3 quả vị thánh, đưa thần thức thoát khỏi sinh tử luân hồi. Hai quả vị đầu gọi là tu tiểu thừa, quả vị Bồ Tát gọi là phép tu đại thừa viên mãn. Phật khuyến tấn chúng sinh phát tâm đại bi rộng lớn cứu độ chúng sinh trong các cõi ra khỏi sinh tử luân hồi để đạt quả vị Bồ tát [13].

Bồ tát tu đạt Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật. Lúc này, chúng ta đã quay trở lại với tự tánh [14] trong chính chúng ta. Phật nói “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành” là ở lý này. Khác hẳn với các tôn giáo khác, chỉ tôn vinh một vị thần linh bậc nhất của tôn giáo đó [15], trong khi Phật giáo chỉ ra ai cũng có thể thành Phật [16].

4. Phật giảng quy luật của vũ trụ: Phật nói “Vạn Pháp giai không, nhân quả bất không”. Do đó, theo nhà Phật mọi sự vật và hiện tượng trong vũ trụ đều do nhân duyên sinh ra không có thực thể ban đầu nên gọi đó là không và chỉ có duy nhất luật Nhân quả bất không. Trong vũ trụ ngoài cái thật ta trường tồn, có một điều luôn tồn tại là luật Nhân quả. Từ quy luật này, Phật giảng cho sinh hiểu rõ nhân quả, theo đó mà tu hành, không cầu xin ở các Ngài (các Chư Phật, Chư Bồ Tát) mà cũng được như ý, đó là theo đạo lý gieo nhân nào gặt quả ấy mà thôi. Phật từ trong cuộc sống con người mà giác ngộ, nên rất thấu hiểu chúng sinh hiện nay đang mong cầu những gì? đó là: cầu tiền tài; cầu có sức khỏe và sống lâu; cầu có trí tuệ; cầu giải thoát sau khi chết. Phật từ bi, theo nhân quả chỉ ra 4 quy luật bất di bất dịch của vận vật vũ trụ: (1) Muốn giàu, có địa vị (có tài lộc) phải biết bố thí tài; (2) muốn khỏe mạnh sống lâu phải bố thí vô úy (phóng sinh và ăn chay); (3) muốn thông minh, chí huệ phải bố thí phật pháp (đem phật pháp giảng cho mọi người); (4) muốn thành Phật phải chuyên tâm niệm AdiđàPhật. Trong các Kinh thường có những câu chuyện cổ, Phật kể về hiện báo, hậu báo của luật nhân quả này. Cho nên cổ nhân,Đại Đức xưa đã tổng kết: nhân duyên quả báo tơ hào không sai. Giống như là người trồng dưa thì thu đượcdưa, người trồng đậu thu được đậu, đó là đạo lý. Chúng sinh tạo nhân tốt, khi gặp duyên sẽ nhận quả tốt và ngược lại chúng sinh tạo nhân ác, khi gặp duyên sẽ nhậnđược quả ác, chỉ có điều sớm hay muộn mà thôi - đó là chân lý nhất định. Tuy nhiên ta cũng phải biết Luật Nhân-quả thông suốt 3 đời, quá khứ, hiện tại, vị lai. Nếu quả nhận ngay trong đời này gọi là quả hiện báo, nếu đời sau nhận gọi là quả hậu báo. Đây là quy luật tổng quát nhất của vạn vật, vũ trụ mà không chỉ có Phật giáo, mà cả triết học và các tôn giáo khác cũng chỉ ra. Tuy nhiên, các tôn giáo, triết học, khoa học mới chỉ nói được quy luật nhân quả trong phạm vi nhỏ bé của nghiên cứu, hay đạo lý của tôn giáo mình.

5. Về nhân duyên gia đình, xã hội: Vợ chồng, con cái, đồng nghiệp đến với nhau đều quy về 4 nhân duyên: đền ơn, báo oán, đòi nợ, trả nợ. Con hiếu dưỡng, chăm sóc cha mẹ là đền ơn; con thường xuyên nuôi nấng, cúng dường tiền cho cha mẹ là trả nợ; con tiêu tiền của cha mẹ là đòi nợ, con ngược đãi cha mẹ là báo oán.

6. Về quan điểm Thiện– Ác trong Phật giáo, Khổng giáo:

+ Khổng tử nói về người tốt và người xấu: người được mọi người yêu thích chưa hẳn là người tốt; người bị mọi người ghét bỏ chưa hẳn là người xấu; Người được người tốt quý, người xấu ghét là người tốt; người được người xấu quý, người tốt ghét là người xấu.

+ Phật nói về hành động thiện và hành động ác. Hành động (từ ý nghĩ đến lời nói và việc làm) đều xuất phát từ lợi ích cho đại đa số chúng sinh là việc làm thiện; ngược lại hành động chỉ vì mình là ác. Còn nếu vì mình mà tổn hại đại đa số chúng sinh là đại ác. Các đại đức cũng nói đạo lý trên như sau: chỉ có đạo lý lợi người thì lợi mình, hại người tất hại mình. Đạo lý hại người lợi mình là giả và không có thật, vì hưởng rất ngắn, chẳng qua chưa kịp nhận quả mà thôi.

7. Về nghiệp lực: những ý nghĩ, hành động, lời nói của chúng ta hàng ngày tạo ra nghiệp nhân của thân, khẩu, ý. Các sự việc lành, dữ ta sẽ nhận là quả báo hay nghiệp báo. Cảm giác vui, buồn, đau khổ, sợ hãi vv... gọi là thọ báo. Tạo nghiệp ác, nhận quả báo ác, tạo nghiệp thiện, nhận quả báo thiện [17] là chân lý. Nghiệp có quá khứ đã tạo và hiện tại đang tạo. Nghiệp do thân, khẩu,ý tạo nên, quả báo cũng theo đó mà hưởng. Nghiệp ác của ý là tham, sân, si, mạn ( kiêu mạn) nghi, đối kỵ, ích kỷ, tự tư, tự lợi thì quả báo là 3 đường ác. Quả báo tâm tham là ngạ quỷ, quả báo của tâm sân hận, thù địch là địa ngục, quả báo của tâm si mê [18] (không hiểu gì phật pháp) là súc sinh. Tạo nghiệp thiện thì ngược lại không tham không sân, không si v...v... sẽ về cõi người, quỷ thần, trời.

8. Phương pháp giải nghiệp: giải nghiệp thường phải có tâm hổ thẹn và lòng sám hối, quyết không tái phạm. Nghiệp của chúng sinh do thân, khẩu, ý sinh ra. Nghiệp kết tập nhiều đời, nhiều kiếp thành khối nghiệp khổng lồ. Làm thế nào để sám trừ nghiệp trướng? có nhiều cách, xong cách dễ nhất chỉ cần chuyên tâm niệm câu "Nam mô A di đà phật" thường xuyên chân thành, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn giải được 80 ức [19] kiếp nghiệp sinh tử trọng tội. Lợi lạc to lớn hơn của Pháp môn Niệm Phật (tức pháp môn Tịnh độ) là khi lâm chung, nếu niệm được 1 đến 10 niệm, nhất tâm bất loạn, Phật ADIĐÀ cùng Ngài QUAN THẾ ÂM và ĐẠI THẾ CHÍ cùng Chư Thiên hiện ra, đón người đó về cõi Cực lạc của đức Phật Adiađà [20] theo đúng 48 đại nguyện của Phật Adiđà [21].

9. Tu hành là gì: tu hành không phải cắt tóc vào chùa [22] mà tu hành là tu sửa hành vi sai quấy của mình để quay lại với tự tánh vốn có tức Phật tánh của tất cả chúng sinh. Tu hành có 4 loại: tâm xuất gia, thân cũng xuất gia (người xuất gia chân chính); thân xuất gia, tâm không xuất gia (là tà sư); thân không xuất gia,tâm xuất gia (cư sỹ tại gia); thân không xuất gia, tâm không xuất gia (người phàm). Hiện nay có khoảng 10 Tông môn khác nhau, nhưng quy tụ về 3 môn phái chính của Phật giáo: là Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông.


II. Phật giáo, các tôn giáo khác và huyền học:



1. Phật giáo: Chữ “Phật” trong tiếng Phạn là chỉ người đại giác ngộ. Đại giác ngộ chỉ những người thấu hiểu tất cả, thông suốt,tường tận chân lý của vạn vật trong vũ trụ và nhân sinh. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Đại định 49 ngày đã khai mở trí huệ, nhờ đó ngài có năng lực siêu việt, đại ngộ đã thấu suốt tất cả chân tướng, nguyên lý, nguyên tắc trong vũ trụ,nhân sinh. Vũ trụ mà Phật nói đến tận hư không (rộng lớn hơn đại thiên hà) và tất cả cảnh giới hiện đang tồn tại quanh môi trường ta đang sống (phật, trời, người, thần, quỷ, ma, súc sinh, địa ngục vv...) mà mắt thường không thể nhìn thấy được. Trong 49 năm thuyết Pháp, Phật mang những cảnh giới trên giới thiệu tường tận cho các đệ tử, chúng ta biết được những điều này thông qua Kinh của Phật. Phật giáo, thực chất là nền giáo dục viên mãn, giúp con người cách phá mê, khai ngộ, thoát ly sinh tử, lìa khổ, được vui, trường tồn vĩnh viễn. Phật giáo không mê tín [23], nhưng do một số người truyền đạt lại tư tưởng Đạo Phật không đầy đủ, tường tận, dẫn con người đến hành động mê lầm không tu dưỡng mà chỉ cầu xin cúng bái. Phật giáo không phải tôn giáo, Phật không bảo mọi người cầu xin ở Phật, ở Bồ tát mà tin vào giáo lý của Phật thuyết ra [24], để hiện thực nó trong cuộc sống, sẽ được an vui, hạnh phúc mãi mãi. Do đâu có được điều này, Phật nói do chúng ta đang sống theo quy luật tự nhiên mà có. Tu hành là cầu tự tánh của chính mình, của vũ trụ nên tâm hành giả tương ứng [25] với Tâm Phật, Tâm Bồ tát mọi sự cầu này chắc chắn phải linh.

2. Kito Giáo: Giêsu –Kito ra đời khoảng đầu công nguyên. Năm 30 tuổi, ông bỏ nhà ra đi truyền bá những tư tưởng của mình về một tôn giáo mới 3 năm khác với  Do Thái giáo. Sau khi ông qua đời, Kito giáo được hình thành. Theo Kito giáo: Thiên Chúa là đấng tối cao, sáng tạo ra vũ trụ, trời đất, muôn loài có cả con người. Thiên Chúa là người có quyền năng, xếp sắp, vận hành trật tự trong vũ trụ và muôn loài. Con người do Thiên chúa tạo ra có: thể xác do vật chất tạo nên và linh hồn là yếu tố thiêng liêng vô hình. Linh hồn có chức năng tạo ra chí tuệ và quyền lựa chọn tự do của con người. Chúa trời cho Giêsu con một của mình xuống chuộc tội với loài người.

- Kinh thánh gồm hai phần: cựu ước vàTân ước.

- Các điều răn dạy: thờ phụng và kính yêu Thiên chúa; thảo kính cha mẹ; tôn trọng sự sống và không giết người; sống trong sạch không trộm cắp tà dâm; sống công bằng; không nói dối; không tham của người.

3. Hồi giáo: tin tưởng Thánh –Ala là thượng đế duy nhất, kiến tạo và điều khiển mọi sự sinh tồn; Thánh Ala đã chiến thắng và chính phục mọi thần linh khác nêntoàn bộ sức mạnh tập trung ở Thánh – Ala. Môhamét được coi là sứ giả của Thánh–Ala và sứ giả anh minh nhất, vĩ đại nhất của các sứ giả. Quan niệm sau khi chết về các cõi thiên thần và ác quỷ, thiên đường và địa ngục. Tu hành có: cầu nguyện, ăn chay theo tháng, cầu nguyện và bố thí để có cuộc sống tương lai nơi thiên đàng, con người mới có căn nhà lưu lại mãi mãi.

Kinh thánh: Kinh Coran

4. Huyền học là gì: nhiều người ngày nay tưởng huyền học là một môn do Phật để lại, vì Phật để lại 84.000 Pháp môn, nhưng không phải. Huyền học là một học cơ cở lý luận do quan sát các hiện tượng của thiên văn, thời tiết, lịch học, nhân học, số học nên lý luận rất sâu xa, huyền diệu như: thuyết âm dương, ngũ hành,chiêm tinh học, tử vi, tướng số, trạch cát, quẻ hào và 12 con giáp, ngày giờ tốt xấu. Đây là lý thuyết do các bậc thánh nhân để lại, lý luận chuyên sâu, tin tưởng thực hành, không cần minh chứng nó coi như định đề hay giả thuyết của toán học,vật lý vv.. Có lẽ nền tảng huyền học là thuật toán, thuật số của các nhà bác học cổ đưa ra. Mục tiêu của nó xây dựng cơ sở cho khoa học dự báo tốt xấu về vận mệnh quốc gia, con người, về thời tiết, về ngày giời, đất cát vv.. Ngày nay một số chùa mang cả nội dung này vào thực hiện trong chùa.

5. Hình thức Phật giáo là gì: Ngày nay nhiều thầy tu xa rời nhiệm vụ của người xuất gia là mang giáo lý nhà Phật giảng dạy cho chúng sinh. Đồng thời phải thường xuyên tu tập đạo hạnh của chính mình để làm gương như Phật, Bồ tát và thiện tri thức. Một số nơi xem nhẹ nhiệm vụ trên, lại sa đà vào xem bói toán, cúng sớ dâng sao giải hạn, xem phong thủy, xem ngày giờ tốt xấu, nhà của đất cát, tâm linh, là công việc của các thầy địa lý, thầy tử vi, thầy cúng, thầy bói. Do đó để chúng sinh đời sau mê lầm coi đó cũng là pháp phật để lại, dẫn chúng sinh không tu hành chỉ thích cầu xin, nên lạc vào con đường ngoại đạo [26].

6. Phật giáo khác với tôn giáo khác ở chỗ nào: Phật giáo là sư đạo, Phật là bậc thầy, chỉ cho chúng sinh hiểu rõ nhân quả, từ đó chỉ ra con đường tu để thành Phật, thành Bồ tát cứu độ chúng sinh đang mê mờ, do không hiểu rõ chân tướng sự thật. Phật giáo là hướng nội, tự tu sửa suy nghĩ, lời nói và hành động để cải tạo cuộc sống và vận mệnh hiện tại, do tu là chuyển nghiệp. Nói xa hơn, quốc gia tu cũng cải tạo vận mệnh quốc gia vì đây là cộng nghiệp. Viên mãn nhất là tu thì thoát khỏi sinh tử luân hồi và thành Bồ tát, thành Phật. Trong khi đó, phần lớn các tôn giáo khác chỉ khuyên con người hãy đặt lòng tin vào một Đấng tối cao là Thượng đế, Ngài tạo nên tất cả vũ trụ và con người. Ngài đã an bài tất cả cho chúng ta, nên khuyên chúng ta hãy cam chịu số mệnh [27] và sống theo lời dạy của ngài để sau khi chết lên thiên đàng [28]. Còn huyền học là môn khoa học dự báo cổ nên nó cũng có mức độ chính xác theo kiểu xác suất, kết quả phụ thuộc thầy tìm lời giải cho bài toán. Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của môn huyền học là không tìm được làm thế nào cải tạo được vận mệnh cho chính mình vì không biết nguyên nhân. ĐạoPhật sẵn sàng cho một lời giải rất mỹ mãn “Tu là chuyển nghiệp – tâm tưởng sự thành”.


III. Triết học, khoa học hiện đại đang làm sáng tỏ được một số điều Phật đã nói:



Phật là người Đại triệt, đại ngộ, Minh tâm, Kiến tánh, nên nhìn thấy tất cả các thế giới trong vũ trụ rộng lớn nhờ nhập Đại định [29], thấy bằng lục thông bằng phật nhãn - tức tâm thức, không phải thấy bằng mắt thường và tâm ý thức[30] của chúng sinh hữu tình.

Trong khi đó, các nhà triết học, một phần có nghiên cứu kinh sách, tôn giáo cổ, một phần tư duy, dùng tâm ý thức tưởng tượng ra, xây dựng nên giáo lý, do đó những giáo lý này có một số nội dung tương đồng, nhưng không thể giải thích được tại sao.

1. Khoa học hiện tại đang làm sáng tỏ một điều Phật đã nói:

Phật nói: Nhất chân pháp giới đồng một bản thể; Mười pháp giới y chánh trang nghiêm, duy tâm sở hiện, duy thức sở biến;

Mác nói: trước khi thế giới là một thể thống nhất, thì trước hết thế giới phải tồn tại đã. Tính thống nhất của thế giới bởi tính vật chất của nó[31]. Sản phẩm cao nhất của vật chất, tức trí tuệ con người [32]; “hiện tượng có vô vàn thế giới trong không gian vô tận” bắt buộc phải thừa nhận là tất yếu.[33]

Phật nói: không gian vô cùng không bờ mé, thời gian là vô tận.

Mác nói: “vấn đề tự nó được giải quyết rõ ràng. cái vĩnh cửu trong thời gian, cái vô tận trong không gian, điều đó đã rõ ráng ngay từ đầu và theo ý nghĩa trực tiếp của các từ ấy” [34].

Phật nói: chung sinh hữu tình gồm có thân xác (do đất, nước, gió, lửa) và thần thức tạo nên. linh hồn còn cơ thể sống, linh hồn ra khỏi, cơt hể chết.

Mác nói: sự sống, sự trao đổi chất diễn ra thông qua dinh dưỡng và bài tiết là mộtquá trình tự lực thực hiện, một quá trình vốn có bên trong bẩm sinh của chất tiêu biểu của nó là abumin, mà không có nó thì chất abumin không thể tồn tại được.Định nghĩa của chúng tôi về sự sống, còn xa mới có thể bao gồm tất cả hiện tượng của cuộc sống, mà trái lại định nghĩa chỉ có giới hạn chung nhất và đơn giản nhất.[35]

Phật nói: Thần thức (linh hồn) của chúng sinh không mất đi mà chỉ đầu luân hồi trong 6 cõi, hoặc nhập vào đường tứ thánh.

Mác nói: Nếu như một ngày kia, nó phải hủy diệt cái tinh thần đang tư duy, thì nó lại phải tất yếu tái sinh cái tinh thần đó ở một nơi khác và trong khoảng thời gian khác.[36]

Phật nói: vạn vật có: thành, trụ, hoại không; có sinh, ắt có diệt.

Mác nói: triết học Hy lạp cho rằng toàn bộ giới tự nhiên từ hạt cát cho đến mặt trời, từ sinh vật nguyên thủy cho đến con người nằm trong tình trạng không ngừng sinh, đang vận động và diệt vong ...chỉ có chỗ khác nhau cơ bản là người Hy lạp dùng trực giác thiên tài, chúng ta là một công trình nghiên cứu khoa học chặt chẽ.[37]

Phật dạy: “tâm tham đọa ngạ quỷ, tâm sân đọa địa ngục, tâm sy đọa súc sinh”. Người ngày nay chết hay làm quỷ nhất vì có tâm tham quá lớn. Cõi ngạ quỷ ta thường hay gọi là ma hay người âm. Hiện tượng gọi hồn, lên đồng là do hồn ma mượn xác người sống làm phương tiện giao tiếp với người đang sống.

Mác viết : “Xuên - nơ đã phát hiện rất nhiều về chiều thứ tư của không gian; ông đã phát hiện rằng có nhiều sự vật, không thể có trong không gian ba chiều, thì trở thành một sự tất nhiên trong một không gian bốn chiều...Tóm lại những phép lạ trong không gian bốn chiều đều được hồn ma hoàn thành dễ như chơi...Nhưng nếu chúng ta giả thiết rằng những bản thông báo ấy phản ánh một cách trung thành kết quả thí nghiệm của Xuên – nơ, thì hiển nhiên là nó mở đầu cho một kỷ nguyên mới trong thần linh học cũng như trong toán học. Các hồn ma đã chứng minh rằng có chiều thứ tư của không gian, cũng như chiều thứ tư đảm bảo rằng có hồn ma.[38]”

Phật nói: Vũ trụ có núi Tu di và xung quang núi Tu di có 4 châu, trái đất của chúng ta là Nam thiện bội châu

Khoa học chứng minh: Vũ trụ có hố đen siêu vật chất nằm giữa các dải thiên hà mà mắt thường không nhìn thấy do sự hấp thụ ánh sáng của hố đen; 

Phật nói: vi trần là những hạt rất nhỏ của trần thế, trong nước có trùng.

Khoa học chứng minh: khoa học chứng minh trong vật chất có điện tử, photong, hạt của chúa rất nhỏ. Khoa học thế kỷ 19 sau khi chế tạo ra kinh hiển vi xem thấy trong nước có rất nhiều vi trùng.

Phật nói: trong cơ thể người một satna [39] có 60 cái sinh diệt.

Khoa học chứng minh: trong cơ thể người một giây có hàng nghìn tế bào già chết đi và thay vào đó có tế bào mới ra đời, mắt thường không thấy được.



2. Giải thích một số hiện tượng nhạy cảm bằng kiến thức Phật học:

- Hiện tượng gọi hồn, tìm mộ dựa trên cơ sở nào:

Đa số người chết thành ma (ngả quỷ), đây là một hình thức tồn tại của thần thức (linh hồn) tồn tại quanh ta, rất gần gũi với cõi người, vì trên cùng địa cầu này. Vì chúng sinh dạng này không có thân xác vật thể như chúng ta, nhưng một số hồn ma rất muốn giao lưu với người thân để trao đổi thông tin. Do đó họ rất muốn mượn thân xác của ai đó để nói ra mong muốn của mình vì lúc sống chưa kịp nói ra. Những người có thần thức yếu dễ bị ma nhập thân, đẩy thần thức mình ra để mượn thân [40] làm việc nêu trên. Trong khi nhập, chủ nhân không biết được gì, sau khi linh hồn thoát ra, cơ thể dần dần tỉnh lại. Một số người có khả năng cho hồn nhập thường xuyên; một số dạng khác lại có khả năng nghe được tiếng người âm, nhìn thấy người âm ban đêm; một số khác lại bịa đặt, đóng giả như người âm nhập như thật để kiếm tiền.

-Tại sao ta không nhìn thấy, sờ thấy người âm (hoặc người cõi khác, trừ cõi súc sinh).

Theo thuyết tương đối hẹp của Anh Xơ Tanh trong vụ trụ: khi một vật chuyển động nhanh hơn tốc độ ánh sáng (300.000.000 mét/giây) thì: thể tích nhỏ lại và bằng không [41], khối lượng bằng không khí (V = C) do đó ta không thể nhìn thấy và sờ thấy họ.

Một lý thuyết nữa Mác đã nói, đó là họ đang tồn tại trong không gian nhiều chiều hơn chúng ta. Khoa học hiện đại ngày nay đã chứng minh trong vũ trụ, không gian có đến 11 chiều [42]. Nhà toán học nổi tiếng Gausơ người Đức, đã bác bỏ nghiên cứu toán học trong không gian 3 chiều, mà đưa ra lý thuyết không gian đa chiều trong toán từ thế kỷ18. Như vậy mỗi cõi hoạt động trong gian duy thứ khác nhau (có số lượng chiều khác nhau), nên không thấy hết nhau. Chỉ có Phật ở không gian cao nhất, thời gian bằng không, thấy tất cả.

- Các Alahán lại nhìn thấy 500 đời trước của mình nhờ khả năng gì: vì họ có khả năng chuyển động nhanh hơn tốc độ ánh sáng, nên di chuyển ngược trục thời gian thì sẽ nhìn thấy các đời quá khứ của mình.

-Tại sao một số người có thuật thôi miên, có linh cảm rất nóng ruột khi người thân bị nạn?

Một số người có khả năng phát sóng tâm mạnh hơn, có thể khống chế thần kinh người khác thực hiện theo ý định của mình. Khi một người bị nạn, trong tâm của họ thường phát ra một thứ sóng tâm (hiểu như sóng điện từ), tác động lên tâm người thân theo nguyên tắc đồng thanh tương ứng (cần ai thì người đó cảm ứng) gây ra cho người thân cảm giác bồn chồn nóng ruột.

- Tại sao một số người cõi trời (thần chất), cõi Tây phương Cực lạc (thánh chất), một số Pháp sư Tây tạng [43] có khả năng biến hiện ra vật chất từ hư không có hình như thức ăn, nhà cửa.

Khoa học lượng tử đã chứng minh, vật chất có hai thuộc tính sóng và hạt. Khi chuyển đổi từ hạt sang sóng (như phản ứng nguyên tử) giải phóng năng lượng cực lớn, vậy khi biến từ sóng (sóng tâm) sang vật chất là một quá trình biến năng lượng thành vật chất. Tuy nhiên khả năng này chỉ có những người trời, có năng lực cao, tạo sóng tâm lớn mới có khả năng biến năng lượng thành vật chất như ý.

Cầu Phật linh ứng do đâu: Ngạn ngữ có câu “Phật ở muôn chung, hữu cầu tất ứng”. Tuy nhiên Cầu Phật phải đúng lý, đúng pháp sẽ linh ứng. Như trên đã nói Phật dạy chúng ta hành theo quy luật của tự nhiên, không cầu xin ở các Ngài. Vì muốn có quả chúng ta đã gieo nhân, các ngài không làm thay được. Khi nhân thiện nhiều, các Ngài tạo duyên thì rất dễ thành quả thiện. Vì thế một số người cầu rất dễ ứng, một số người cầu không linh, do cầu cho tự tư tự lợi, hoặc gieo nhân ít. Ngoài ra còn một số vị Phật, Bồ tát có những lời nguyện riêng như Ngài Quán thế Âm Bồ tát cứu khổ cứu nạn, khi chúng sinh gặp nạn: nước, lửa, tai nạn xe cộ, thú dữ, Phụ nữ thai sản khó cầu tên Ngài NA MÔ QUAN THÊ ÂM BÔ TÁT, Ngài ra tay cứu vớt ngay (gặp linh ứng kỳ diệu), đó là sự thật. Nhưng linh ứng nhất câu NA MÔ ADIĐÀ PHẬT niệm câu này thì 10 thế giới chư Phật đồng hộ niệm, trong đó có cả ngài Quán Thế âm Bồ tát – thị vệ của Phật ADIĐÀ. Có những người nhờ niệm phật khỏi bệnh ung thư, hiểm nghèo là do: (1) niệm Phật giải được nghiệp trướng, trong khi bệnh nan ý do nghiệp tạo nên; (2) các ngài tạo duyên để ta gặp thầy, gặp thuốc; (2) các ngài phát trường sóng tâm, ta thu được khi niệm tên Ngài. Như trên đã nói, sóng này mang năng lượng cực lớn, có tác dụng phục hồi tế bào gốc, nên có khả năng chữa bệnh ung thư, bệnh hiểm nghèo. Nếu ta càng tin, sóng thu được càng mạnh, giống như ta bắt được đúng sóng đài truyền hình, nếu không tin, sóng có nhiễu, hiệu quả kém.

Còn rất nhiều điều của vũ trụ và tự nhiên, con người rất dễ giải thích nếu chúng ta tường tận giáo lý Nhà Phật, từ đó không còn hành động mê tín dị đoan, không thấy những hiện tượng nhạy cảm trên là huyền bí./.


======
Chú thích:

[1] Tin nhưng không hiểu tường tận nó, cứ mơ hồ tin theo.

[2] Không gian không bờ mé gọi là vũ, thời gian không cùng tận gọi là trụ.

[3] Phậtcủa Tạng giáo, tương đương Bồ tát của Pháp môn khác.

[4] Tánh là thể của Tâm, tâm là dụng của tánh.

[5] Chúng ( nhiều) duyên sinh ra gọi là chúng sinh.

[6] Nghiệplực là kết quả vũ trụ trả lại khi chúng ta tạo tác ra do một hành động do thân,khẩu ý của chính mình theo luật nhân quả.

[7] Các nhà khoa học đã chứng minh ở thực vật vàkhoáng vật đều có khả năng nghe, nhìn.

[8] Các tánh Phật: Chân thành, Thanh tịnh, Bình đẳng,Chánh giác, Từ bi.

[9] Nhiều nhà ngoại cảm có khả năng này.

[10] Chính là tự tánh đã mê mờ do tâm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước sinh ra.

[11] Thườnglà thân ngả quỷ, địa ngục thập đại địa ngục, súc sinh hay về cõi quỷ thần (thầnlinh), cõi trời 28 tầng.

[12] Trời cung có đến 28 tầng trời khác nhau do công đức tu hành của mọi người khácnhau.

[13] Bồtát Viên giáo có 41 phẩm vị khác nhau do công đức tu hành.

[14] Phật tánh có nhiều, nhưng cơ bản nhất thanh tịnh, bình đẳng, chánh giác, Từ bi

[15] Ví như các vị Chúa,Thánh, Thần,...

[16] Trong Phật Danh Kinh có 12000 vị Phật, thực tế còn nhiều hơn.

[17] Ví dụ: những người yêu thích, ca ngợi chủnghĩa cá nhân, quả báo là địa ngục; nhữngngười yêu, ca ngợi, hành động vì chủ nghĩa xã hội sẽ sinh lên cõi trời sau khichết.

[18] Những nhà khoa học không tin Phật pháp cũng vẫn gọi là sy mê.

[19] Ức là tỷ, kiếp là vô số đời ( một vòng sinh tử).

[20] Hiện Phật Adidà đang thuyết Pháp ở cõi Tây Phương Cực lạc.

[21] Đây gọi là hiện tượng vãng sinh tịnh độ.

[22] Đây gọi là người xuất gia, chứ không phải người đi tu.

[23] Mê tín là niềm tin không có giáo lý, không được kiểm nghiệm.

[24] Y Pháp bất Y nhân

[25] Thuyết đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.

[26] Ngoại đạo là hướng ra ngoài cầu xin không tu tập chính mình để thay nhân đổi quả.

[27] Đây mới là những tôn giáo mê tín.

[28] Theo giáo lý Nhà Phật, người trời sống rất lâu nhưng chết vẫn đọa địa ngục, vẫntrong sinh tử luân hồi.

[29] Dụng được chân tâm mà hiện lộ tất cả Vũ trụ.

[30] Tâm ý thức là tâm dựa trên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

[31] trang 67

[32] trang 461

[33] Trang 482 tập 20 Mác - Ăng ghen toàn tập.

[34] Trang 75

[35] Trang 121. tập 20

[36] Trang 483

[37] Trang 471

[38] Trang 506 tập 20

[39] Satna là một cái khẩy móng tay, khỏang 1/60 giây.

[40] Xem phim oan hồn của Mỹ để hiểu rõ vấn đề này.

[41] Tiên đề 1 và 3 về co lại của chiều dài và giảm khối lượng trong hệ quy chiếu động.

[42] Nhà vật lý nổi tiếng thế giới người Anh, thế kỷ 21 Stenven Harking chứng minh không gian có 11 chiều.

[43] Xem tác phẩm hành trình về phương đông.


Share:

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2018

TẢN MẠN VỀ TÔN GIÁO NGÀY NAY

    Không rõ từ bao giờ và vì sao người theo đạo Thiên chúa ở VN lại được gọi chung (tắt) là “người theo đạo”. Và cũng chả biết tự bao giờ từ “tôn giáo” xuất hiện tại VN, nhưng có lẽ sau khi đạo Thiên chúa du nhập vào VN vì từ này xuất phát từ tiếng Latinh, religio, mang nghĩa "tôn trọng điều linh thiêng, tôn kính thần linh".

Thực ra, nguồn gốc của “đạo” là khác với “tôn giáo”.
"Một vật gì đó sinh ra cả trời đất, lặng lẽ, trống không, đứng riêng biệt không đổi thay, tuần hoàn không biết mệt mỏi, có thể làm mẹ thiên hạ; ta không rõ tên là gì, gọi nó là đạo" - Lão Tử

Chữ “đạo” ban đầu có lẽ xuất phát từ tư tưởng triết học cổ xưa của Lão Tử, Kinh Dịch, Phật học,… đại khái chỉ về một cái thứ mà chúng ta không biết là gì, vô thủy vô chung, vô hình vô tướng,.. nhưng bao trùm cả vũ trụ và có nó thì mới có trời đất, cỏ cây hoa lá,.. Theo ngôn ngữ hiện đại thì có thể gọi nó là quy luật của tự nhiên. Tức là từ xa xưa, lâu lắm rồi, con người ta đã mơ hồ nhìn ra cái mối quan hệ giữa các thực thể trong tự nhiên, ràng buộc lẫn nhau bằng các quy luật vô hình nào đó. Và con người chỉ là một mắt xích của tự nhiên, thuộc về tự nhiên, và làm gì thì cũng dưới sự “quan phòng” của tự nhiên,.. chứ tuyệt đối con người không thể là một thực thể tách rời khỏi tự nhiên, chinh phục được tự nhiên, làm chủ được tự nhiên như nền khoa học hiện đại đã từng rêu rao. Hiểu được cái “đạo” ấy, người xưa tìm ra các biện pháp thực hành để làm sao sống, cư xử với đời một cách tự nhiên nhất, “đạo” nhất. Đó không hẳn là các phương pháp tu tiên, trường sinh bất lão cao siêu nào đó mà đơn giản chỉ là tối thiểu hóa sự can thiệp vào thiên nhiên cũng như sự bon chen giữa người với người, đồng nghĩa với giảm thiểu sự tham lam trong con người, từ đó làm trong sạch cái tâm người, dẫn đến một cuộc sống hạnh phúc, an nhiên tự tại. Dần dà, “đạo” đi vào cuộc sống phát triển lên thành lề lối, thói quen, cách cư xử,.. hay còn gọi là đạo nghĩa ở đời.

Tuy nhiên, cái tham ái của loài người là vô cùng lớn nên không hẳn ai cũng có thể thực hành theo các “đạo” này. Nhưng ai cũng muốn mình được hưởng thành quả như những người hành đạo. Vậy là hình thức tôn giáo truyền thống hòa quyện với các “đạo” cho ra các biến thể mới. Như các ông Lão Tử, Như Lai đều được phong thành thánh, thành Phật, trở thành những thế lực siêu nhiên để ban phát phước lành cho người đời. Các tư tưởng tu thân hành đạo như thế bị hoán chuyển thành các tôn giáo cứu thế, độ trì.

Người ta nghĩ rằng XH càng phát triển thì “miếng bánh” của tôn giáo càng bị thu hẹp đi nhưng thực tế có lẽ không phải thế.
Ở Mỹ, lượng người “in God we trust” giảm đi nhưng “in Allah we trust”, “in Buddha we trust”, “in Bhaman we trust”,.. lại tăng lên rất nhiều, cùng với hàng trăm hệ phái tôn giáo mới ra đời. Có vẻ như trong lúc loài người lo chinh phục tự nhiên và chinh phục lẫn nhau, họ đã bỏ trống tâm hồn mình cho cỏ dại mọc nên bây giờ phải đi tìm sự cứu rỗi.
Còn ở Việt Nam ta, sau một thời gian nhà nhà kiếm tiền, người người kiếm tiền, nhà thờ, chùa chiền và các hình thức tôn giáo khác cũng đã nở rộ như nấm sau mưa. 
Dường như, “ơn trên” lại đến mùa mưa móc!
Share:

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

TÍNH ĐẶC THÙ THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA

Kinh tế thị trường khắc phục được kinh tế tự nhiên tự cấp tự túc, đẩy mạnh phân công lao động xã hội, phát triển ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động, khuyến khích ứng dụng công nghệ - kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất lao động, tăng số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hóa, dịch vụ, thúc đẩy tích tụ tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, thúc đẩy việc phát huy tính năng động sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế, đồng thời tạo ra cơ chế phân bổ và sử dụng các nguồn lực của xã hội hợp lý, tiết kiệm,... Vì vậy, phát triển kinh tế thị trường được coi là chiếc “đòn xeo” để xây dựng chủ nghĩa xã hội, là phương tiện khách quan để xã hội hóa xã hội chủ nghĩa (XHCN) nền sản xuất. Không thể có nền kinh tế thị trường ở nước này lại là bản sao của kinh tế thị trường ở nước khác. Trong các tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị trường này với nền kinh tế thị trường khác, phải kể đến định hướng chính trị, kinh tế, xã hội chi phối sự vận động phát triển của nền kinh tế.




Ở nước ta những định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường là:

  • Thứ nhất, thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
  • Thứ hai, phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
  • Thứ ba, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
  • Thứ tư, phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
  • Thứ năm, xây dựng một nền kinh tế thị trường hòa nhập vào nền kinh tế thị trường khu vực và thế giới với nhiều hình thức quan hệ và liên kết phong phú đa phương, đa dạng.



Với định hướng trên, mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được xác định là tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế; nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, tăng thêm các nguồn lực mới bằng cách nâng cao tỷ lệ tiết kiệm, tăng tích lũy và đầu tư hiện đại hóa, đổi mới cơ cấu kinh tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,... để đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo và kém phát triển.


Theo mục tiêu đó, có thể xác định những đặc trưng bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta:


Một là, kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu tổ chức nền kinh tế trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ một nước nông nghiệp lạc hậu, kinh tế còn kém phát triển. Kiểu tổ chức nền kinh tế này nhằm nhanh chóng đưa nước ta đạt đến mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.


Hai là, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một nền kinh tế gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể phải trở thành nền tảng và kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều vận động theo định hướng chung và theo khung khổ pháp luật của nhà nước XHCN.


Ba là, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của CNXH.


Bốn là, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế “mở” cả với bên trong và với bên ngoài. Tồn tại trong nhiều hình thái kinh tế - xã hội, hoạt động của cơ chế thị trường không chỉ chịu sự tác động của các quy luật kinh tế thị trường nói chung, mà còn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế đặc thù của phương thức sản xuất chủ đạo.


Do vậy, mô hình cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN) và trong nền kinh tế định hướng XHCN có những đặc điểm khác nhau cơ bản:


Thứ nhất, về chế độ sở hữu. Cơ chế thị trường trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa luôn hoạt động trên nền tảng của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, trong đó các công ty tư bản độc quyền giữ vai trò chi phối sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Cơ chế thị trường trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN lại hoạt động trong môi trường của sự đa dạng các quan hệ sở hữu, trong đó chế độ công hữu giữ vai trò là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Tính định hướng XHCN đòi hỏi trong khi phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần phải củng cố và phát triển kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trở thành nền tảng của nền kinh tế có khả năng điều tiết, hướng dẫn sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Kinh tế nhà nước phải được củng cố và phát triển ở các vị trí then chốt của nền kinh tế, ở lĩnh vực an ninh - quốc phòng, ở các lĩnh vực dịch vụ xã hội cần thiết... mà các thành phần kinh tế khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư vì không sinh lời hoặc ít lãi.


Thứ hai, về tính giai cấp của nhà nước và mục đích quản lý của nhà nước. Trong cơ chế thị trường TBCN, sự can thiệp của nhà nước luôn mang tính chất tư sản và trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhằm bảo đảm môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp tư sản, cho sự bền vững của chế độ bóc lột TBCN. Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, thì sự can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa vào nền kinh tế lại nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của toàn thể nhân dân lao động, thực hiện mục tiêu, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


Thứ ba, về cơ chế vận hành. Cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cơ chế đó bảo đảm tính hướng dẫn, điều khiển nền kinh tế nhiều thành phần hướng tới đích XHCN theo phương châm: Nhà nước điều tiết vĩ mô, thị trường hướng dẫn doanh nghiệp. Cơ chế đó thể hiện ở các mặt cơ bản: Một là, Nhà nước XHCN là nhân tố đóng vai trò “nhân vật trung tâm” và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Hai là, cơ chế thị trường là nhân tố trung tâm của nền kinh tế, đóng vai trò “trung gian” giữa Nhà nước và doanh nghiệp.


Thứ tư, về mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với công bằng xã hội. Trong sự phát triển của kinh tế thị trường TBCN, vấn đề công bằng xã hội chỉ được đặt ra khi mặt trái của cơ chế thị trường đã làm gay gắt các vấn đề xã hội, tạo ra nguy cơ bùng nổ xã hội, đe dọa sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Song, vấn đề đó không bao giờ và không thể nào giải quyết được triệt để trong chế độ TBCN. Mục đích giải quyết các vấn đề xã hội của các chính phủ tư sản chỉ giới hạn trong khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản, chỉ được xem là phương tiện để duy trì chế độ TBCN. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước chủ động ngay từ đầu việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. Vấn đề công bằng xã hội không chỉ là phương tiện để phát triển nền kinh tế thị trường mà còn là mục tiêu của chế độ xã hội mới. Sự thành công của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không chỉ biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng cao mà còn ở chỗ mức sống thực tế của mọi tầng lớp dân cư đều được nâng lên, y tế, giáo dục đều phát triển, khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp, đạo đức, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ vững, môi trường sinh thái được bảo vệ.


Thứ năm, về phân phối thu nhập. Sự thành công của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN không chỉ dừng lại ở tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm tốt các vấn đề xã hội và công bằng, bình đẳng trong xã hội. Đặc trưng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thể hiện: Một là, xác định các chỉ tiêu hiệu quả cần đạt được, như tốc độ tăng GDP/người; các chỉ tiêu về phát triển giáo dục, y tế, việc làm; về xóa đói, giảm nghèo; về văn hóa - xã hội; bảo vệ môi trường sinh thái,... Hai là, nâng cao chức năng xã hội của Nhà nước XHCN trong chế độ bảo hiểm xã hội, trong chính sách phân phối thu nhập, đồng thời có chính sách bảo đảm xã hội đối với những đối tượng đặc biệt (gia đình có công với cách mạng, thương binh, người tàn tật,...).


Tình hình đó đặt ra cho kinh tế thị trường định hướng XHCN phải kết hợp hài hoà 3 vấn đề sau đây:
1- Kết hợp vấn đề lợi nhuận với vấn đề xã hội. Mục đích của sự kết hợp này là vừa bảo đảm cho các chủ thể của kinh tế thị trường có được lợi nhuận cao, vừa tạo được điều kiện chính trị - xã hội bình thường cho sự phát triển kinh tế.
2- Kết hợp chặt chẽ những nguyên tắc phân phối của CNXH và nguyên tắc của kinh tế thị trường, như phân phối theo lao động, theo vốn, theo tài năng, phân phối qua quỹ phúc lợi xã hội,... Trong đó, nguyên tắc phân phối theo lao động là chính.
3- Điều tiết phân phối thu nhập, một mặt, đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách sao cho giảm bớt khoảng cách chênh lệch giàu và nghèo...; mặt khác, phải có chính sách, biện pháp nâng cao thu nhập chính đáng của người giàu, người nghèo và của toàn xã hội.



Tuy vậy, nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay vẫn còn mang nặng những đặc điểm:


Một là, kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ là nền kinh tế quá độ. Tính quá độ thể hiện ở chỗ trong nền kinh tế bao gồm nhiều loại hình sản xuất hàng hóa đan xen nhau: sản xuất hàng hóa XHCN, sản xuất hàng hóa TBCN và sản xuất hàng hóa nhỏ... (nhiều thành phần kinh tế với nhiều hình thức sở hữu khác nhau tham gia sản xuất hàng hóa). Mỗi kiểu sản xuất hàng hóa có những nét đặc thù về bản chất kinh tế - xã hội và trình độ phát triển, nhưng nó đều là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân thống nhất, hình thành và chịu sự chi phối của một thị trường xã hội thống nhất với các quan hệ cung - cầu, giá cả chung, một đồng tiền chung... Bởi vậy, các loại hình sản xuất này vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau, bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo hộ quyền sở hữu và quyền thu nhập hợp pháp. Nhưng các kiểu sản xuất hàng hóa này không còn giữ nguyên bản chất, vì nó mang tính chất quá độ. Nhân tố kinh tế và quan hệ kinh tế trong sản xuất hàng hóa của mỗi thành phần kinh tế đều đã xuất hiện những cái mới. Ví dụ, trong sản xuất hàng hóa TBCN đã có những nhân tố kinh tế của kinh tế nhà nước, như điện, nước, kết cấu hạ tầng, thông tin liên lạc,... và đã có những quan hệ kinh tế với các thành phần kinh tế khác, chịu sự quản lý của Nhà nước XHCN...Trong nền kinh tế thị trường quá độ, sản xuất hàng hóa XHCN giữ vai trò chủ đạo, định hướng đối với các kiểu sản xuất hàng hóa khác.


Hai là, kinh tế thị trường còn ở trình độ chưa phát triển. Biểu hiện ở số lượng mặt hàng và chủng loại hàng hóa nghèo nàn, khối lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường và kim ngạch xuất nhập khẩu còn nhỏ, chi phí sản xuất và giá cả hàng hóa cao, chất lượng hàng hóa thấp, quy mô và dung lượng thị trường hạn hẹp; sức cạnh tranh của các doanh nghiệp và hàng hóa trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài còn yếu; đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp giỏi còn ít, thu nhập của người lao động còn thấp, do đó sức mua còn hạn chế; nhiều loại thị trường còn ở trình độ thấp, như thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường sức lao động,... Trình độ phát triển thấp của sản xuất hàng hóa bắt nguồn từ trình độ thấp của lực lượng sản xuất, từ tính chất sản xuất nhỏ của nền kinh tế, từ trình độ phân công lao động xã hội kém phát triển, từ sự kém phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng, lao động thủ công còn chiếm tỷ trọng lớn, từ sự nhận thức giản đơn về CNXH...


Ba là, nền kinh tế thị trường phát triển theo hướng hoà nhập vào thị trường thế giới. Cách mạng khoa học - công nghệ càng phát triển càng làm cho lực lượng sản xuất phát triển đạt trình độ xã hội hóa cao, dẫn đến quá trình khu vực hóa, quốc tế hóa nền kinh tế ngày càng mở rộng. Do vậy, phát triển kinh tế thị trường không chỉ dựa trên cơ sở điều kiện trong nước, mà còn phải tính đến quan hệ kinh tế quốc tế, đến xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế. Nền kinh tế thị trường của mỗi quốc gia muốn phát triển thuận lợi không thể không gắn với thị trường thế giới. Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã làm cho số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa cho tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân ngày càng phong phú, đa dạng, mà bất cứ một nước nào dù là nước phát triển nhất cũng không thể sản xuất tất cả các loại hàng hóa. Vì vậy, mỗi nước phải tùy theo lợi thế của mình, lựa chọn những mặt hàng sản xuất có hiệu quả và cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Sản xuất hàng hóa ở nước ta chỉ có thể phát triển mạnh mẽ nếu thu hút có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài và áp dụng những tiến bộ công nghệ, kỹ thuật hiện đại của thế giới để khai thác những tiềm năng còn rất lớn trong nền kinh tế. Muốn vậy, con đường đúng đắn là phát triển nền kinh tế mới hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả.


Bốn là, phát triển kinh tế thị trường gắn với việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Phát triển kinh tế thị trường gắn với nền kinh tế mở là tất yếu, nhưng trong quá trình đó, bên cạnh việc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, thì cũng có nguy cơ du nhập những yếu tố văn hóa xa lạ với truyền thống, đặc điểm của dân tộc. Muốn giữ được nền kinh tế thị trường mang bản sắc văn hóa Việt Nam phải thực hiện có hiệu quả sự quản lý vĩ mô của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, không chấp nhận lối sống thực dụng với sự chi phối tất cả của đồng tiền, không chấp nhận việc thương mại hóa mọi hoạt động đời sống xã hội, mà đề cao những chuẩn mực giá trị văn hóa và đạo đức, đồng thời đấu tranh xóa bỏ những tập tục và lối sống cổ hủ, lạc hậu. Kết hợp sự chọn lọc tinh hoa của văn minh nhân loại với việc giữ gìn những yếu tố tinh tuý của văn hóa dân tộc, xây dựng những nhân tố văn hóa XHCN.



Ở nước ta phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm bảo đảm các yêu cầu sau: Tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với những tiến bộ về công bằng xã hội, thực hiện mục tiêu “mọi lợi ích đều vì dân”, giải phóng con người, con người phát triển toàn diện. Phát triển kinh tế cao dựa trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Thành phần kinh tế nhà nước là chủ đạo, cùng kinh tế tập thể là nền tảng của kinh tế quốc dân. Các thành phần kinh tế khác phát triển theo sự quản lý của Nhà nước. Tính năng động của cơ chế thị trường phải gắn với sự quản lý của Nhà nước. Đa dạng các hình thức phân phối, phân phối theo lao động ngày càng chi phối. Không ngừng đổi mới và hoàn thiện quan hệ giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của đất nước, nhằm phát huy sức mạnh tổng thể quốc gia. Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo nguyên tắc ngày càng tăng nhanh sức sống nội sinh của dân tộc, biến yếu tố ngoại sinh thành yếu tố nội sinh.


Để phát triển kinh tế thị trưởng định hướng XHCN cần thực hiện những giải pháp sau:


Một là, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần.


Hai là, mở rộng phân công lao động, phân bố lại lao động và dân cư trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, từng vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.


Ba là, tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường.


Bốn là, đẩy mạnh cách mạng khoa học - công nghệ, nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.


Năm là, giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả.


Sáu là, đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi, phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng XHCN.


Bảy là, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế thị trường./.
----------------------------------------------------------
Vũ Văn Phúc
PGS, TS, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản


Share:

TÌM KIẾM

ĐỒNG HỒ

BÀI ĐƯỢC QUAN TÂM

  • SỐ LƯỢNG BÀI VIẾT
  • SỐ LƯỢNG BÌNH LUẬN
  • SỐ LƯỢNG NGƯỜI XEM

ĐANG GHÉ THĂM

Người theo dõi